VÀO CHÙA

VÀO CHÙA

Đến chùa là tạo nhân duyên xuất thế, xây chùa là gieo nhân Tịnh độ, cúng dường chư tăng là gieo nhân xuất ly. Do người thế gian ô trọc, tâm tính thô tháo bước vào chốn già lam thanh tịnh, e rằng có những hành vi trái phép tắc, nên phải xả bỏ chút ít của cải cúng dường tam bảo để tự chuộc lỗi. Như vậy mới tỏ rõ người xuất gia có pháp thí, kẻ tục gia có tài thí, hành động hợp phép tắc thì người trong chùa và ngoài đời đều được lợi ích.
Theo Tây Vực, hễ nam hay nữ vừa đến cổng chùa, liền khởi tâm vui gặp được chùa, nên trước hết sửa ngay ngắn y phục, lễ chung một lạy. Sau khi vào bên trong cổng, lại lễ một lạy, rồi khoan thai bước thẳng, không được ngoảnh nhìn hai bên. Do đó, kinh Niết-bàn ghi: “Khi đến tăng phường, có bảy việc: khởi lòng tin, lễ lạy, nghe pháp, chí tâm, suy nghĩ ý nghĩa pháp được nghe, thực hành đúng như lời dạy, hồi hướng Đại thừa giúp nhiều người được lợi ích. Giữ bảy việc thiện này thì được công đức cao hơn cả, không thể thí dụ được”.
Kinh Úc-già trưởng giả ghi: “Đức Phật bảo:
Này trưởng giả! Bồ-tát tại gia khi vào chùa hoặc tinh xá, nên đứng ngoài cửa lễ lạy. Sau đó, bước vào chùa, tự nghĩ: “Bao giờ ta sẽ được ở chùa, nơi thoát ngoài trần lao, ô nhiễm”.
Luận Thập trụ tì -bà-sa ghi: “Nếu bồ-tát tại gia vào chùa, trước hết lạy sát đất ở ngoài cổng chùa, nghĩ rằng đây là nơi ở của bậc thiện nhân, nơi ở của người tu hạnh từ, bi, hỉ, xả, cho nên, mình phải lễ. Nếu thấy các tăng sĩ có đầy đủ oai nghi thì cung kính lễ lạy, gần gũi, thăm hỏi”.
Luận Thiện kiến ghi: “Đệ tử đi theo thầy không được đạp lên bóng thầy”.
Nếu phụ nữ vào chùa, cũng giữ phép tắc như trên, nhưng không được ngồi phía trước nam giới, không được trò chuyện, cười cợt, trang điểm son phấn, vẽ lông mày, đùa giỡn trái phép tắc, không được suồng sã nắm tay, chạm vào người khác. Cần phải giữ ý và giữ nghiêm vẻ mặt, vâng theo lời người trong chùa bảo, theo thứ tự cầm hương, nhất tâm cúng dường, sám hối tự trách rằng: “Mình bị sinh làm người nữ, luôn có chướng ngại, thiếu nhân duyên để tu tập diệu pháp này, không được tự chủ, phải làm theo ý người khác, thật khổ thay!”. Phải tỏ vẻ khẩn thiết. Nếu thấy sa-di, phải lễ như lễ vị tăng lớn, đừng cho là người nhỏ mà không cung kính, vì vị này nhỏ so với vị tăng lớn, nhưng tôn quí hơn người thế tục. Phải hết sức thực hành những phép tắc như thế. Có nhiều phép tắc cần tuân theo, được trình bày đầy đủ ở thiên Sĩ nữ trong bộ Pháp uyển châu lâmgồm một trăm quyển.

Nếu nam nữ cư sĩ đã thực hiện xong các hạnh tu, muốn rời khỏi chùa, phải lạy ba lạy ở trước tháp Phật, nhiễu bên phải tháp ba vòng, chắp tay tán tụng, sau đó, ra ngoài cổng chùa, lại lễ một lạy nữa. Khi trông thấy tăng, nếu ít người thì lễ mỗi vị ba lạy, nếu nhiều vị thì lễ từ biệt chung ba lạy.
Kinh Tự ái ghi: “Bấy giờ, có một vị vua đến chỗ Đức Phật. Thấy tinh xá ở phía xa, nhà vua liền xuống xe, xếp lọng, bỏ gươm, cởi giày, chắp tay đi thẳng đến”.
Luật Tăng -kì ghi: “Khi đi thì nhìn thẳng, lúc quay lại thì quay cả người. Khi bước đi, đặt gót chân xuống trước, đặt ngón chân xuống sau, nhìn xuống đất mà bước để tránh loạn tâm và bảo vệ chúng sinh. Đó là tác phong của bồ-tát bất thoái”.
Tây Quốc tự đồ ghi: “Đi đến chỗ của Phật, lễ ba lạy xong, đi nhiễu ba vòng, tán tụng ba bài. Sau khi lễ xong, mới đến tăng phòng, lễ một lạy ở ngoài phòng, rồi vào yết kiến vị thượng tọa, tuần tự đến vị hạ tọa, lễ mỗi vị ba lạy. Nếu tăng đông thì lễ một lạy. Nếu thấy việc không đúng pháp thì không được chê trách. Nếu lên tiếng chê trách thì tự đánh mất sự tốt đẹp; đó không phải là việc nên làm khi vào chùa”.
Kinh Niết-bàn ghi: “Người đến chùa nên bỏ dao, gậy và các vật linh tinh, rồi mới vào chùa. Bỏ dao gậy tức là bỏ lòng giận hờn tam bảo; bỏ vật linh tinh tức là bỏ tâm cầu xin tam bảo. Hãy bỏ hai lỗi ấy, rồi mới nên vào chùa. Đi nhiễu Phật theo chiều thuận, không được đi theo chiều nghịch. Giả sử gặp vật chướng ngại buộc phải đi theo bên trái thì phải luôn luôn nghĩ tưởng Phật ở bên phải. Lúc vào và ra khỏi chùa đều quay mặt về phía Phật lễ lạy. Luôn nhớ thể của tam bảo chỉ là một. Vì sao? Vì bậc giác ngộ pháp, có đủ phúc trí được gọi là Phật, đạo mà Phật giác ngộ gọi là pháp, người tu học Phật đạo gọi là tăng. Cho nên, thể của tất cả phàm và thánh như nhau, không hai. Khi vào chùa, nên cúi đầu nhìn xuống đất, không được nhìn lên cao, thấy côn trùng thì đừng làm tổn thương chúng. Phải ca tụng, khen ngợi tam bảo. Không được khạc nhổ trong khuôn viên chùa. Nếu thấy cỏ rác dơ bẩn thì phải dọn sạch”.
Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Khi ở trong tháp, không được lễ người khác”.
Luật Thập tụng ghi: “Trước tháp Phật và tháp thanh văn, không được lễ lẫn nhau”.
Ngũ bách vấn sự cũng ghi: “Ở trước tháp Phật mà lễ người khác thì bị tội”.
Kinh Tam thiên oai nghi ghi: “Không được ngồi trên cao mà lễ. Thời nay, thường ở một số chùa và các nhà cư sĩ, có người xuất gia và tại gia ngồi trên giường lễ Phật. Đấy là quá kiêu mạn. Ví dụ muốn lạy nhà vua, đâu được ở trên giường mà lạy! Đối với vua nhân gian còn không được phép như thế, huống gì đối với Pháp Vương lại được làm theo cách ấy sao?”.
Luận Tì-ni mẫu ghi: “Không được mang giày dép vào trong tháp”.
Ngũ bách vấn sự ghi: “Nếu là giày, dép, vớ sạch mới thì được mang khi lễ lạy”.
Luật Tăng-kì ghi: “Nếu nhận lễ lạy của người thì không được im lặng mà phải hỏi thăm họ có được khỏe và an vui không, đi đường có mệt nhọc không?”.
Nếu có người nam vì gặp nạn, phải đến chùa xin nghỉ qua đêm, thì không được nằm trên giường chiếu của chư tăng. Nếu không có đồ nằm riêng của mình thì nên mượn đồ nằm đúng phép tắc, nhưng không được chung giường với tăng. Cho nên, kinh Bảo lương ghi: “Nằm chung giường với tăng thì nửa người sẽ chết khô, đọa địa ngục chịu khổ cùng cực”.
Khi tăng chưa ngủ, không được ngủ trước, không được đùa giỡn, cười nói những lời trái pháp, làm mất uy nghi, xao động tâm mọi người. Nếu đại tiểu tiện, hỉ mũi, khạc nhổ, vì cầu pháp mà ban đêm không ra ngoài được, thì không phạm. Khi ngủ, phải nằm nghiêng người sang phải, hai chân để chồng lên nhau, tâm tự nhủ phải dậy sớm từ lúc trời vừa hừng sáng. Đó là biểu hiện nhân xuất gia.
Do đó, kinh ghi: “Nằm ngửa là cách nằm của a- tu-la; nằm sấp là cách nằm của ngạ quỉ; nằm nghiêng bên trái là cách nằm của người tham dục; nằm nghiêng bên phải là tư thế nằm của người xuất gia”.
Phải dậy sớm trước khi chư tăng dậy. Rửa mặt, sửa ngay ngắn y phục, đến trước phòng của tăng.
Luận Thiện kiến ghi: “Đệ tử tham vấn thầy nên tránh sáu vị trí:
Không được đứng ngay trước mặt thầy
Không được ở sau lưng thầy
Không được ở quá xa thầy
Không được đến quá sát thầy
Không được đứng ở chỗ cao
Không được đứng trên gió”.
Nên đứng chệch sang một bên không quá gần hoặc quá xa, để có thể nghe được lời nói nhỏ của thầy và thầy cũng không phí sức. Khi thực hành như thế, trong mọi uy nghi đều không được rời xa thầy.
Luận Thiện kiến ghi: “Khi lễ Phật, phải đi nhiễu ba vòng, lễ ba lạy, lễ bốn phương, đưa hai bàn tay xoa lên đầu, rồi đi lùi ra ngoài. Khi không còn trông thấy tướng Như Lai nữa, lại lễ, rồi quay về phía trước mà đi”.
Nguồn: Nhân quả

Related Articles

Responses