TÁO QUÂN hiển linh, chỉ rõ NHÂN QUẢ điều khiển VẬN MỆNH như thế nào ?

TÁO QUÂN hiển linh, chỉ rõ NHÂN QUẢ điều khiển VẬN MỆNH như thế nào ?

Có một số người có một câu nói cửa miệng rằng:
“Trời ơi, sao ông trời lại bất công với tôi như vậy ?”
Họ luôn cho rằng mình sống rất tốt, nhưng cuộc đời thì lại thất bại thảm hại, xui xẻo đeo bám, không sao ngóc lên được.
Nguyên nhân gì khiến họ xui xẻo ? Làm thế nào để xoay chuyển định mệnh, để thần may mắn mỉm cười với họ ?

Chúng ta sẽ cùng phân tích & giải mã vấn đề này. Việc này rất hệ trọng, vì bạn có thể áp dụng với chính mình, để hóa giải những vận xui trong cuộc sống, thay đổi vận mạng của chính bạn.

Việc thứ 1 cần làm rõ, đó là “ Có thật là anh đã sống tốt không ? Hay đó chỉ là một sự giả tạo ?”

Luật Nhân quả là một quy luật có thật & cực kì quyền năng, nó quy định rằng những người làm nhiều việc thiện sẽ gặp những điều tốt lành & ngược lại.
Tuy nhiên, nhiều người có thói quen “ tự sướng”, luôn cho rằng mình là người tốt, là lương thiện, và tự tin nghĩ rằng “ Tốt như mình thì trời phải phù hộ là lẽ đương nhiên”, lỡ như xảy ra chuyện đau khổ gì đó, thì y như rằng lại ngửa mặt lên trời mà bảo trời không có mắt”

Không, cần phải bỏ ngay tư duy sai lầm này. Đối trước nhân quả, không hề có người oan. Dù mắt thường không thấy, nhưng Nhân Quả là cỗ máy điện toán siêu cấp, ghi chép đầy đủ mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm của từng người không sót thứ gì từ kiếp này sang kiếp khác, luôn luôn công bằng và cực kì chính xác.
Một người có thể dùng mặt nạ giả tạo để lừa mọi người, thậm chí lừa dối chính mình, sai nhưng chẳng bao giờ nhận mình sai, tuy nhiên, quả báo thì vẫn cứ xảy đến, chối cãi, che đậy… không có tác dụng gì.
Bạn cần một bằng chứng ?

Vậy thì, người đàn ông sau đây sẽ là một minh chứng cho điều này, ông ta tên là Du Đô, tất nhiên là một người có thật trong lịch sử, sinh năm 1524, tức khoảng niên hiệu Gia Tĩnh triều Minh, ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc.
Kiến thức uyên bác lại có nhiều tài năng. Từ năm 18 tuổi đã thi đỗ tú tài, mỗi lần vượt qua các kỳ thi đều có thứ hạng cao.
Thời tuổi trẻ, nhà nghèo nên Du Đô mở lớp nhận học trò, lại cùng các bạn đồng học khoảng hơn mười người thành lập nhóm Văn Xương Xã, khuyến khích nhau thực hành những việc như giữ gìn giấy có chữ viết, phóng sinh cứu vật, răn ngừa những sự tham dâm, giết hại, nói dối… Thực hành như vậy được nhiều năm.
Nhìn từ ngoài vào, ai cũng nghĩ ông ta là một người lương thiện, và chính ông ta cũng nghĩ như vậy. Nên ông ta chắc mẩm trong bụng rằng, ông sẽ được hưởng phước báo, tương lai sẽ ngập đầy vinh hoa phú quý.
Ấy thế mà… đời không như là mơ.

Trước sau ông đã tham dự đến 7 khoa thi Hương nhưng đều thi trượt. Thất vọng, ông về quê cưới vợ sinh con.
Tổng cộng ông sinh được 5 đứa con trai, 4 đứa con gái, thì có đến 4 đứa con trai bị bệnh chết sớm. Đứa con trai còn lại rất thông minh tuấn tú, dưới lòng bàn chân trái có 2 nốt ruồi, vợ chồng ông hết sức yêu quý.
Khổ nỗi, đến năm lên 8 tuổi, đứa con trai ấy đi chơi trong làng bỗng lạc mất không về, chẳng biết đi đâu, 2 vợ chồng tìm kiếm rất lâu nhưng vô vọng.
Còn 4 đứa con gái cũng chết 3, chỉ còn lại một đứa, xong lại bị ngơ ngẩn. Vợ ông thương khóc con đến nỗi mù cả hai mắt. Ông Du Đô vất vả quanh năm nhưng ngày càng nghèo túng hơn, trật vật không lo nổi miếng cơm manh áo hàng ngày. Thật sự hoàn cảnh hết sức là …bi đát.

Vẫn cứ đinh ninh mình chẳng phạm lỗi gì bao giờ, lại lương thiện, tốt bụng như thế, mà nỡ lòng nào số phận đày đọa ông quá mức thảm hại. Tức mình ông cứ đến 23 tháng chạp, ngày Táo Quân chầu trời, ông lại viết sớ, than trời trách đất, kể lể sự tình… rồi đốt. Hi vọng trời cao chứng giám mà cho ông một cái lẽ công bằng. Ông cứ đốt và chờ đợi nhiều năm như thế, vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra.
Bạn cho rằng ông này mê tín ? Trên đời này làm gì có Táo Quân hay Ngọc Hoàng, làm gì có Nhân quả hay quỷ thần nào chứng minh cho ông ?
Thế thì bạn hãy cập nhật lại nhé. Có đấy. Thượng đế đã cử mh xuống trả lời ông, nghĩa đen hoàn toàn.

Năm ông Du Đô 47 tuổi, vào đêm giao thừa cuối năm, ông Du Đô đang ngồi trong nhà với đứa con gái và người vợ mù, cảnh nhà túng quẫn, năm hết tết đến mà không còn tiền mua sắm nổi cái gì, nên cả nhà đều buồn bã, thê lương tĩnh lặng, không khí ngập tràn đau thương chua xót.
Bỗng nghe có tiếng gõ cửa, ông liền cầm đuốc đi ra xem, nhìn thấy một người mặc y phục màu đen, đầu đội khăn vuông kiểu đạo sĩ, râu tóc xem chừng đã luống tuổi.
Người ấy chắp tay vái chào rất lịch sự rồi đi theo vào nhà ngồi xuống, tự giới thiệu mình là người họ Trương, từ xa đến đây, nghe biết nhà ông có chuyện buồn khổ nên đặc biệt tìm đến an ủi.
Ông Du Đô thấy người khách có vẻ lạ thường nên thi lễ hết sức cung kính. Nhân khi trò chuyện, liền kể với ông khách họ Trương việc mình suốt đời đọc sách thánh hiền, làm thiện tích đức, nhưng đến nay đường công danh chẳng được như ý, vợ mù, con cái đứa chết, đứa mất tích gần hết, cơm ăn áo mặc còn chưa đủ, lại đã nhiều lần viết sớ nhờ thần Bếp trình lên Ngọc đế nhưng không thấy kết quả gì.
Ông khách họ Trương lạnh lùng nói, như tạt gáo nước vào mặt Du Đô:

“Chuyện nhà ông tôi đã sớm biết từ lâu rồi. Tâm ý xấu ác của ông thật quá nặng nề. Ông vốn chỉ biết chạy theo hư danh. Sớ ông viết trình lên chứa đầy những lời oán hận, xem thường Thượng đế, tôi chỉ e là sự trừng phạt còn chưa dừng lại ở mức như hiện nay đâu.”

Ông Du Đô hết sức kinh hãi, thưa rằng: “Tôi nghe nói trong chốn u minh, dù một điều thiện nhỏ cũng được ghi chép đủ. Tôi phát nguyện làm việc thiện, kính cẩn giữ mình theo khuôn phép do Văn Xương Xã đề ra đã lâu, lẽ nào tất cả những việc ấy đều là chuộng hư danh thôi sao?”
Ông khách họ Trương nói: “Được, vậy hãy thử lấy một điều trong những khuôn phép [do Văn Xương Xã của ông đề ra] mà xét, là việc mỗi tháng đều làm việc phóng sinh, ông cũng chỉ qua loa làm theo, dựa vào người khác mà nên việc.
Ví như những người khác không khởi làm thì ông cũng bỏ qua không làm, kỳ thật trong lòng ông chẳng có mảy may tâm niệm từ bi. Hơn nữa, ông thường câu cá, bắt giết các loại tủy tộc, trong nhà ông các loại tôm cua cũng thường bị đưa vào bếp nấu nướng, lẽ nào chúng lại không phải sinh mạng đó sao?
“Mỗi khi phạm sai trái trong lời nói, ông lại uốn ba tấc lưỡi đảo trắng thành đen, khiến cho người nghe phải điên đảo tưởng xấu là tốt mà thán phục ông.
Dù trong lòng ông vẫn tự biết đang làm tổn thương đức tốt, nhưng chỉ vì quen thói cũ nên trong lúc cùng bạn bè tụ tập chuyện phiếm cứ theo đà chê bai, giễu cợt người khác, không thể dừng lại được. Miệng lưỡi như thế của ông khiến quỷ thần phải nổi giận; việc xấu ác ở cõi âm đã ghi lại thật nhiều chẳng biết đến bao nhiêu mà kể.
Vậy mà ông còn tự nhận mình là người đức hạnh sâu dày, lại cho rằng mình chẳng dối lừa khinh dể ai sao? Lại cho rằng như vậy chẳng phải là khinh dể trời cao đó sao?
“Còn về chuyện tà dâm, tuy không xảy ra hành vi thực sự, nhưng ông thấy gái đẹp thì chăm chăm nhìn kỹ, tâm ý dâm dục nổi lên không còn tự chủ, chỉ là không gặp dịp thích hợp để hành sự đó thôi. Ông hãy tự xét lại mình trong những lúc ấy, liệu có được như bậc chính nhân quân tủ như Lỗ Nam Tử chăng? Vậy mà dám nói là “suốt đời không vướng chuyện tà dâm háo sắc, có thể đối mặt với trời đất quỷ thần” quả là lời dối trá.
“Đó là những khuôn phép do chính ông tự nguyện làm theo, được ghi thành quy củ điều luật của Văn Xương Xã mà còn như vậy, huống chi là những việc khác?
“Ông liên tục nhiều năm đốt sớ trình lên Thượng đế, kể lể sự tình. Thượng đế lệnh cho sứ giả Nhật Du xem xét kỹ những việc thiện ác của ông làm, trải qua nhiều năm không thấy việc thiện nào rõ ràng có thể ghi nhận, chỉ thấy những khi ông ở một mình nơi khuất tất vắng vẻ thì toàn là những tâm niệm tham lam, dâm dật, ganh ghét, hẹp hòi nóng nảy, tự mãn khinh người, nhớ việc đã qua, mong việc sắp đến, báo thù rửa hận… chen nhau khởi lên trong lòng, [nhiều đến mức] không thể ghi chép hết. Những sự xấu ác đủ loại khởi lên từ tâm ý như thế đã tích tụ gắn kết kiên cố từ lâu, thần minh ghi chép đã nhiều, trời giáng hình phạt ngày càng nặng, ông dù muốn tránh né tai họa còn không được thì dựa vào đâu mà cầu hưởng phước lành?”

Ông Du Đô nghe lời ông khách kia hết sức kinh hoàng, chẳng hiểu sao mình với ông ta không quen biết gì, mà ông ta lại nắm rõ từng ý nghĩ – việc làm của mình chẳng hề sai sót, chẳng biết đây là thần thánh phương nào, sợ quá lập tức quỳ sụp xuống đất, khóc lóc thưa rằng:

“Ngài đã rõ biết hết những sự việc trong cõi u minh, nhất định là có quan hệ với tôn thần, cầu xin ngài ra tay cứu độ.”

Người khách họ Trương liền nói: “Ông là người đọc sách, hiểu rõ lễ nghĩa, lại cũng biết hâm mộ điều lành, lấy đó làm vui, nhưng đang khi nghe người khác nói một lời thiện lại không thể khích lệ, thấy người khác làm một việc thiện lại không thể cổ vũ, chỉ toàn phạm vào những điều lỗi lầm, sáo rỗng, hết thảy đều do cội gốc lòng tin vào lẽ phải chưa tự sâu vững, tâm tính lại từ lâu đã quen như vậy nên không hề tự xem xét lại, vì thế mà suốt cả đời khi nói một lời lành, làm một việc thiện, chẳng qua đều chỉ là giả tạo, chưa từng có lời nào, việc nào là chân thật cả.
Hơn nữa, tâm niệm xấu ác lại chất chứa tràn ngập trong lòng, tiếp nối nhau không ngừng sinh khởi, như vậy mà mong muốn được trời cho phước báo tốt lành thì có khác nào mảnh đất gieo trồng đầy những gai góc, lại mê muội mong thu hoạch được lúa tốt, chẳng phải sai lầm lắm sao?
Ông Du Đô vẫn lắng nghe từng câu từng chữ, mà âm thầm toát mồ hôi hột. Ông khách áo đen kia tiếp tục:

“Ông từ nay về sau, mỗi khi có những vọng tưởng tạp niệm như tham lam, dâm dục, giả dối… thì phải đem hết quyết tâm mạnh mẽ mà dứt trừ tất cả, thanh lọc tâm ý sao cho luôn trong sạch an tịnh, mỗi mỗi tâm niệm đều chỉ toàn là hiền thiện. Khi gặp một việc thiện, nếu thấy sức mình có thể làm được thì phải mang hết sức ra mà làm ngay, trong lòng không mong báo đáp, không cầu danh tiếng, bất kể đó là việc thiện lớn hay nhỏ, khó khăn hay dễ dàng, đều đem tâm chân thành ham thích nhẫn nại mà làm; nếu thấy sức mình không thể làm nổi thì cũng phải hết lòng lưu tâm ân cần khẩn khoản, khiến cho tâm lành ấy được nuôi dưỡng trọn vẹn.

“Điều cốt yếu thứ nhất là phải có tâm nhẫn nại, kham chịu, thứ hai là phải có tâm kiên trì không thối chuyển, nhất thiết không được biếng lười, nhất thiết phải chân thành không tự lừa dối. Cứ như vậy mà thực hành lâu ngày tự nhiên sẽ có những hiệu quả ứng nghiệm kỳ diệu khôn lường.
“Ta thấy gia đình ông thờ kính ta từ lâu hết sức chân thành nên mới đặc biệt đến đây có mấy lời, xem như báo đáp. Ông phải nhanh chóng làm ngay không nên chậm trễ, may ra mới có thể chuyển đổi được ý trời.”

Vị khách họ Trương nói xong thì đứng dậy, đi thẳng vào trong nhà. Du công lập tức đứng dậy đi theo, vừa đến chỗ bàn thờ thần Bếp thì hốt nhiên biến mất, không còn thấy đâu nữa, mới biết người mình vừa gặp chính là Táo quân, liền cung kính đốt hương lạy tạ.

Đến đây, chắc hẳn bạn đã rõ, rốt cuộc là trời xanh thật có mắt hay là không. Thế giới không chỉ có con người. mà còn tồn tại rất nhiều thế lực siêu nhiên vô cùng sáng suốt và quyền năng, họ âm thầm giám sát từng ý nghĩ- cử chỉ của con người chúng ta.
Sở dĩ con người chúng ta không nhìn thấy họ, cũng chẳng thấy Nhân quả vận hành như thế nào , là vì sống trên thế gian này, chúng ta như đang trong một bài thi khảo nghiệm đức hạnh, mà khi đang thi thì đâu có được mang theo tài liệu để mà làm bài.
Con người chúng ta, luôn giống như bị hàng trăm cái camera giấu kín theo dõi, rồi căn cứ theo những gì ta đã làm, đối chiếu với hệ thống điều luật Nhân quả, mà trả lại cho từng người tội phước báo ứng công bằng.
Thế nên, cái cụm từ “ trời không có mắt” cần thiết phải được xóa bỏ ngay & luôn, vì câu đó vừa là ngu si, vừa mang khẩu nghiệp rất nặng. Vậy, chúng ta nên làm như thế nào ?
Hãy làm như ông Du Đô đây đã làm.

Hôm sau đó là ngày tết Nguyên đán, ông Du Đô thiết lễ kính lạy trời đất, thề nguyện sửa đổi tất cả những lỗi lầm trước đây, thực hành mọi việc thiện, tự đổi hiệu mình là Tịnh Ý Đạo nhân, thể hiện ý nguyện muốn dứt trừ hết mọi sự sai trái xằng bậy, làm thanh tịnh tâm ý.
Ngày đầu tiên bắt đầu làm thiện, những ý niệm hỗn tạp đua nhau sinh khởi, nếu không sinh tâm ngờ vực ắt cũng rơi vào lười nhác uể oải. Trải qua mấy ngày như thế rồi lại thấy mình rơi vào chìm nổi mê muội như trước.
Trong nhà có thờ tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, Du Tịnh Ý liền đối trước tượng Bồ Tát lễ lạy cầu sám hối, khấu đầu đến nỗi chảy cả máu trán, cung kính phát lời đại nguyện rằng: “Con nguyện giữ cho tâm ý chỉ còn thuần nhất niệm lành, tinh tấn nỗ lực làm thiện, nếu có mảy may buông lung thối chí, thề sẽ vĩnh viễn chịu đọa vào địa ngục.”
Ông bắt đầu ghi chép lại câu truyện của mình, ghi tất cả các lỗi lầm đã phạm từ khi còn nhỏ, phải chịu báo ứng ra sao, chuyện gặp Táo quân… mong người đời thấy đó mà biết sửa lỗi.
Mỗi ngày, vào lúc sáng sớm ông đều kiên trì xưng niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm Đại từ Đại bi để cầu sự gia trì cho mình trong việc làm thiện. Sau đó thì mỗi một lời nói, mỗi một việc làm, mỗi một ý nghĩ trong suốt ngày ấy đều tưởng như có quỷ thần đang ở bên cạnh xem xét, tuyệt nhiên không dám dối trá lừa lọc, buông thả phóng túng.
Hết thảy những việc gì có thể cứu giúp người khác, có thể làm lợi lạc cho người, cho đời, bất kể đó là sự việc lớn hay nhỏ, bất kể bản thân mình đang lúc bận rộn hay nhàn rỗi, bất kể là người khác có biết đến hay không, cũng không ngần ngại suy lường sức lực tự thân làm nổi hay không nổi, Du Tịnh Ý đều hoan hỷ cố hết sức làm, cho đến khi thành tựu mới thôi.
Ông lại tùy nhân duyên phương tiện mà rộng làm những việc tích lũy âm đức, hơn nữa còn nỗ lực khuyên người giữ theo luân thường đạo lý, siêng năng đọc sách học hỏi, giữ lòng khiêm hạ, nhẫn nhục hòa kính, lại thường dùng những lẽ nhân quả báo ứng giảng rộng với mọi người. Ông nỗ lực chuyên cần làm thiện suốt ngày như vậy nhưng vẫn không tự cho là đủ.
Vào mỗi ngày cuối tháng, ông Du Tịnh Ý lại đem hết thảy những lời nói, việc làm trong suốt tháng đó viết thành một lá sớ đốt trước bàn thờ thần Bếp để kính cáo.
Ông thực hành như vậy cho đến khi đã thuần thục thì đạt đến mức thân vừa động ắt có muôn điều thiện tùy theo, tâm vừa tĩnh ắt không còn một mảy may tạp niệm nào sinh khởi.
Đó, cách thức là như thế. Nghe thì cũng không phải mới mẻ gì, vì mọi tôn giáo, mọi bậc Thánh nhân cũng đều dạy như thế từ xưa đến nay, thống nhất với nhau không sai khác.
Xong có lẽ nghe nhiều thành nhàm, nên ít ai để vào trong tâm, không tin, không nghe, thậm chí một số kẻ ngông cuồng còn mạnh mồm phỉ báng, đến khi quả báo ập đến thì khổ chẳng biết vì sao khổ, nạn chẳng biết làm sao mà thoát nạn.
Vậy nếu như biết được quy luật này rồi, quyết lòng sửa đổi tâm tính, thì cuộc sống có vì đó mà thay đổi theo không ?
Chúng ta tiếp tục xem tiếp câu chuyện để có được câu trả lời.

Qua ba năm sửa đổi như thế, ông vừa được 50 tuổi, vào niên hiệu Vạn Lịch thứ hai, triều đình mở kỳ thi Hội năm Giáp Tuất (1574). Quan Thủ phụ là Trương Giang Lăng, sau khi kết thúc kỳ thi liền dò hỏi những người đồng hương để tìm người làm thầy dạy cho con. Có người tiến cử Du Tịnh Ý, quan Thủ phụ liền cho người mời ông đến kinh đô làm thầy dạy cho con mình.
Khi nghe Du Tịnh Ý kể về những việc mình đã làm, quan Thủ phụ hết sức kính trọng đức độ và phẩm hạnh của ông, liền dựa theo quy định để giúp ông được vào học trường Quốc học.
Vào niên hiệu Vạn Lịch thứ tư, tức là năm Bính Tý (1576), ông dự kỳ thi Hương tại kinh đô, trúng tuyển cử nhân, sang năm sau lại đỗ tiếp tiến sĩ.
Ngày nọ, ông đến ra mắt quan Nội giám họ Dương, ông này gọi năm đứa con nuôi ra chào. Những người con trai này được họ Dương nhận từ khắp nơi về nuôi, xem như con mình và lấy đó làm niềm vui trong tuổi già.
Du Tịnh Ý chợt nhìn thấy trong số đó có một đứa chừng 16 tuổi, dung mạo dường như quen thuộc lắm, liền hỏi quê quán. Đứa trẻ đáp: “Con người tỉnh Giang Tây, thuở nhỏ đi chơi lên nhầm thuyền buôn gạo [nên không về nhà được], còn tên họ thời ấy với tên làng xóm thì chỉ còn nhớ mường tượng mà thôi.”
Du Tịnh Ý nghe như vậy hết sức ngờ vực, liền bảo nó cởi giày ra để xem lòng bàn chân trái, quả nhiên có 2 nốt ruồi rất rõ. Ông mừng quá hét lớn: “Ôi! Con tôi đây rồi.”
Quan Nội giám họ Dương cũng hết sức kinh ngạc, lập tức cho đứa trẻ ấy theo Du Tịnh Ý về chỗ ngụ. Ông hối hả báo tin vui cho vợ. Vợ ông mừng quá, ôm con khóc lớn đến nỗi máu từ trong mắt tuôn ra ràn rụa. Đứa con cũng khóc, rồi nâng niu khuôn mặt mẹ mà lau nước máu mắt cho mẹ. Không ngờ lúc ấy bỗng nhiên hai mắt bà sáng lại, nhìn thấy rõ ràng. Du Tịnh Ý mừng thương lẫn lộn, không còn muốn làm quan nữa, liền từ biệt Trương Giang Lăng trở về quê nhà.
Quan Thủ phụ Trương Giang Lăng quý trọng nghĩa khí của Du Tịnh Ý, gửi biếu nhiều quà tặng và một số tiền lớn, tiễn ông về quê.
Về quê nhà, ông càng nỗ lực làm việc thiện nhiều hơn nữa. Con trai ông sau đó lập gia đình, sinh được 7 người con, tất cả đều học hành đỗ đạt thành danh.
Du Tịnh Ý ghi chép lại sự việc mình gặp thần Bếp cũng như quá trình sám hối sửa lỗi, dùng để răn dạy, giáo dục con cháu về sau.
Ông sống an ổn khỏe mạnh đến tuổi già, thọ 88 tuổi. Người đời ai cũng cho rằng đó là do ông chân thành làm nhiều việc thiện, chuyển đổi được sự báo ứng trở thành tốt đẹp.
Quy luật là như vậy, rất đơn giản, điều thiện siêng làm, điều ác tránh xa, nội tâm chân thành sám hối, sửa đổi không ngừng, làm được thì mọi việc tự nhiên tốt đẹp, làm không được thì chuyện xấu ập đến, cũng không nên oán trời trách đất, mà chỉ nên tự vấn chính mình.
______________________

Một lượt chia sẻ hoặc một câu bình luận của bạn, đều sẽ giúp cho nhiều người tiếp cận được bài viết hơn. Xin các bạn đừng ngại bỏ thêm chút công sức, để chung tay đem thiện pháp, đem Đạo lí Nhân quả Phật dạy đến với nhiều người, cuộc đời bớt đi một chút tăm tối của Vô minh, tăng thêm chút ánh sáng của Phật Pháp, công đức vô lượng !
Nguồn: Quang Tử

Related Articles

Responses