QUAN ÂM BỒ TÁT CHỮA BỆNH

QUAN ÂM BỒ TÁT CHỮA BỆNH

Trích ” Tân biên Quan Âm linh cảm lục”

14. Triều nhà Đường, Sa môn Thích Pháp Thông, họ Quan, người ở đất
Hộ tại Kinh Triệu, xuất gia từ lúc nhỏ. Thật bất hạnh, thân thể Thầy rất yếu đuối, đi đứng không vững tưởng chừng gió thổi cũng bay, vì thế bị đồng bạn cười chê, khinh dễ. Sa di Pháp Thông vì tuổi còn trẻ, nên không chịu được thái độ và những lời khinh khi của chúng bạn nên rất buồn tủi. Một hôm, Thầy đến trước Thánh tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, hai dòng lệ tuôn rơi, lễ bái Bồ Tát và cầu nguyện rằng: “Thông con nghe Bồ Tát Đại từ Đại bi linh hiển tuỳ theo sở nguyện của mỗi người mà cứu hộ cho tất cả đều được như ý. Xin Bồ Tát rủ lòng Từ bi thương xót cứu khổ cho con qua khỏi bệnh tật và mọi sự khinh nhục.”
Sau đó, Thầy chuyên tâm lễ bái cầu nguyện hàng ngày, một lòng trì tụng Kinh Phổ Môn, ngày đêm không biếng trễ. Trải qua thời gian hơn một năm, một hôm Thầy về nhà thăm Mẫu thân. Đêm ấy, Thầy nằm mộng thấy có người đem đến ba vắt gan lừa cho mình ăn. Thầy vừa cầm lấy một vắt ăn thì bị Mẹ đánh thức dậy.
Một điều lạ lùng là ngay sau lúc đó, Thầy tự nhiên thấy trong người khỏe mạnh, sức lực cường tráng phi thường, da dẻ trở nên hồng hào, các bắp thịt săn chắc.
Thầy đến bên các tảng đá to và các thân gỗ lớn nhấc thử thì thấy tất cả
đều nhẹ nhàng để nâng lên. Thầy trở về chùa với tâm trạng vô cùng phấn
chấn nhưng không nói cho ai biết việc của mình. Trong chùa có một vị Thầy Tăng tên Kham, vóc mình vạm vỡ, sức mạnh không ai bì kịp. Một hôm, Pháp Thông lén lấy bộ cà sa của Thầy Kham, dở đòn dông trên nóc chùa và để bộ cà sa trên đầu cây cột.
Thầy Kham thấy mất bộ cà sa bèn đi kiếm nhưng không thấy nên tưởng đâu là quỷ thần phá rối, lúc bấy giờ trước sự chứng kiến của nhiều người, Thầy Pháp Thông mĩm cười, tay dở đòn dông của chùa lên rồi lấy cà sa đem xuống đưa cho Thầy Kham. Mọi người thấy thế đều kinh ngạc và thán phục, từ ấy về sau không còn một ai dám khinh nhục Pháp Thông nữa.
(Trích Cao Tăng truyện – Tập 2)

16. Triều nhà Đường, Tri Huyền Pháp Sư họ Trần, là người ở Hồng Nhã,
xứ Mỵ Châu. Pháp sư thường tuyên thuyết, diễn giải Kinh Luận Đại thừa.
Hàng Phật tử cả Tăng lẫn tục đều hoan nghênh ngưỡng mộ hết mình. Tuy vậy, Pháp sư vẫn thường tự giận mình có giọng nói không đúng với thổ âm địa phương nên hiệu quả không như ý nguyện.
Sau đó, Pháp sư lên núi Tường Nhĩ, ngày đêm chuyên tụng trì Chú Đại bi. Một hôm, Ngài nằm mộng thấy một vị Thần Tăng đến cắt lưỡi của mình, rồi thay vào chiếc lưỡi khác cho Pháp sư. Đến sáng hôm sau, bổng nhiên khi vừa cất giọng thì Ngài nhận ra âm thanh của mình đã trở thành thổ âm của người nước Tần.

(Trích Cao Tăng truyện – Tập 3)

17. Triều nhà Đường, Sa môn Thích Trí Ích, họ Ngô là người huyện Trường Sa. Lúc trẻ, Thầy từng đi lính chinh phạt bọn rợ Hung nô ở chốn biên cương.
Sau khi ra khỏi quân ngũ, Thầy trở về quê làm nghề săn bắn và chài lưới. Một hôm, Thầy bắt được con rùa trắng nên đem về nấu ăn. Sau khi ăn xong thì toàn thân bị phát độc; sanh ghẻ lở, đau nhức lở loét từ đầu đến chân, da thịt rã rời, râu tóc đều rụng. Thầy không thể nào chịu đựng nổi sự hành hạ của cơn bệnh, lại không thể nào đi kiếm sống được, đành phải làm thân hành khất lê lết xin ăn khắp đầu đường xó chợ.
Một hôm, giữa lúc Thầy đang oằn oại vì đau đớn và đang xin đồng tiền bát gạo của người qua đường thì bỗng gặp một vị Tăng nhân đi ngang qua. Nhìn thấy hoàn cảnh thương tâm này nên vị Tăng bèn đến an ủi và bảo rằng: “Ngươi nên hồi tâm trì niệm Chú Đại bi, Ta sẽ dạy cho. Nếu người cố gắng tinh tiến trì tụng thì Ta tin chắc người sẽ được kết quả linh nghiệm.”
Thầy vâng lời vị Tăng học thuộc Chú Đại Bi và kể từ hôm ấy, nhất tâm trì tụng. Quả đúng như lời vị Tăng nhân nói, các thứ ghẻ lở loét trên thân Thầy bớt dần, râu tóc từ từ mọc lại, da thịt lần hồi cũng hồi
phục sự săn chắc. Khi bệnh lành, Thầy liền phát nguyện xuất gia làm Tăng.
Sau đó, Thầy đến gặp Phục Ba Tướng quân xin cho một ngôi nhà cũ. Được Tướng quân ưng thuận, Thầy kiến lập Tịnh xá nơi ấy, làm Trụ trì, trọn đời tu hành rất tinh tấn.

(Trích Thái Bình Quảng Ký và Chuyển nhân Lục)

18. Triều nhà Đường, Tịnh Chi Thiền sư, người họ Triệu, xứ Cao Lãng,
huyện Ung Châu. Lúc bảy, tám tuổi, Ông đã biết ưa thích quán tưởng Thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, và theo Kinh văn hướng dẫn tu học. Thầy lập chí xuất gia nên đến niên hiệu Trinh Quán, năm đầu nhà Đường, Thầy đến ẩn tu tại chùa Quang Hóa trên 10 năm. Hàng ngày, Thầy thường ngồi thiền trong thảo am, không ở chùa Tăng. Phật tử bốn phương, ngưỡng mộ về hạnh tu của Thầy nên vân tập về tu học trên 200 người.
Thiền Sư ngày đêm sáu thời, đốc xuất đại chúng tu trì rất tinh tiến, không phụ với chí xuất gia và không lãng phí thời giờ vàng ngọc. Một hôm nọ, mũi của Thiền Sư bổng mọc ra một cục thịt ngăn bít làm Thầy vô cùng khó thở, chạy chữa trăm ngàn phương thuốc đều không hiệu nghiệm.
Lúc bấy giờ, có vị Tăng đến bảo Thầy nên phát nguyện trì tụng Bát nhã Tâm kinh mười ngàn lần sẽ khỏi. Thiền sư vâng lời thực hành theo lời
dạy thì cục thịt ấy tự nhiên rụng mất.

(Trích Cao Tăng Truyện – Tập 2)

19. Triều nhà Đường có Thầy Thích Trí Cần, họ Châu. Từ lúc bé đã có chí hướng làm việc thiện, và thực hiện theo phương ngôn “khắc kỷ- ái quần” tức là bản thân luôn nghiêm khắc với chính mình, nhưng với quần chúng thì lúc nào cũng thương yêu giúp đỡ.
Hàng ngày Thầy thường chơi đùa với trẻ con cùng xóm, nói năng nhã nhặn, sắc mặt luôn vui cười. Đến lúc trưởng thành, Thầy xuất gia, tu hành rất tinh tiến; dũng mãnh, lại thường phản tỉnh tự thân và tham cứu Tam tạng giáo điển thật uyên áo. Khi Thầy cầu nguyện điều chi đều được linh ứng. Một lần nọ, thân mẫu của Thầy bị bệnh rất nặng, Thầy phát tâm vì Mẹ ngày đêm kiền thành trì tụng Thánh hiệu Quán Âm Đại
Sĩ để cầu cho Mẹ được mau lành bệnh. Do tâm chí thành cảm đến Bồ tát nên trên lá của những cây cối trong khuôn viên nhà chùa đều hiện thật nhiều hóa Phật.
Sự việc này cả gia đình Thầy mọi người đều tận mắt nhìn thấy. Bệnh
tình của mẫu thân Ngài nhờ sự chí thành trì niệm Thánh hiệu Đại sĩ mà được lành.

(Trích Cao Tăng Truyện – Tập 2)

20. Triều nhà Tống có Pháp sư Kế Trung, tự Pháp Thần. Pháp Sư là con của họ Khâu, ở huyện Vĩnh Gia, tỉnh Chiết Giang. Trước kia, cha mẹ của Pháp sư vì hiếm muộn nên đến trước Phật đài, chí thành lễ bái cầu tự. Một hôm, hai ông bà đồng nằm mộng thấy một vị Tăng đem một đứa bé kháu khỉnh, khôi ngô đến trao cho và nói đây là của Loa Khế Tôn giả xin gởi cho hai ông bà nuôi giúp. Lúc tỉnh dậy, Mẫu thân Pháp sư liền thọ thai.
Một điều lạ là trước kia bà ưa thích ăn thịt cá, nhưng từ lúc thọ thai thì liền chán ghét, chỉ dùng đồ chay. Pháp Sư từ lúc thơ ấu, mỗi khi thấy tượng Phật, tức thời đều lễ kính. Khi lên tám tuổi, Ngài đến Khai Nguyên xuất gia.
Sau đó Ngài đến Nam Hồ, y chỉ theo Ngài Quảng Chí Pháp sư tu học. Do quá sức khắc khổ tu hành, Ngài bị kiệt sức và lâm bệnh, Pháp sư Quảng Chí thực hành Pháp thỉnh Quán Âm Tam muội, cảm ứng đến Đại Sĩ phóng quang cứu bệnh.
Thầy được Quảng Chí Pháp sư dùng nước cúng dường đức Quan Âm rưới trên đỉnh đầu, liền đó Pháp sư được khỏi bệnh. Sau đó Thầy trở nên thông minh cực độ, thông suốt giáo quán không bị trở ngại.

(Trích Phật Tổ thống ký)

21. Triều nhà Tống, niên hiệu Khánh Hòa, năm thứ 7, có người tên Lý
Bác bị bệnh đại ma phong ( bệnh cùi) đã hơn ba năm nhưng tất cả y sĩ đều nói không chữa được. Trước kia khi chưa bị bệnh, Lý Bác thường tụng kinh Phổ Môn đến hơn ba tạng (tức hơn 10.500 biến).

Một ngày nọ, bổng nhiên có một vị Tăng đến nhà, trao cho Lý Bác một hoàn thuốc, Lý Bác cung kính đón nhận, nhưng chưa dám dùng. Tối đó, Ông nằm mộng thấy vị Tăng gặp lúc sáng bảo rằng:
“Thầy vì thương con tụng kinh rất chí thành nên đã đem hoàn linh đơn đặc biệt đến cứu khổ cho con, tại sao con không chịu uống?”
Khi thức dậy, Ông liền lấy hoàng linh đơn ra uống. Thật màu nhiệm, chỉ trong bảy ngày, da dẻ toàn thân do bệnh cùi bị lột hết đều mọc trở lại, râu tóc mọc lại đen huyền giống như một chàng trai.

(Trích Hải Nam Nhứt chước)

22. Triều nhà Tống, có người tên Trương Hiếu Thuần. Thuần có đứa
cháu đã lên năm tuổi nhưng vẫn chưa đi được. Bà con hàng xóm đến
mách bảo rằng: “Vừa rồi ở Hoài Diện có một nông phu chân bị bệnh
đã lâu năm, chạy chữa nhiều phương thuốc nhưng không hiệu nghiệm.
Nông phu ấy tuy thất học nhưng lại là người hết lòng tin tưởng Quan Âm Bồ Tát nên Ông phát nguyện trì niệm Thánh hiệu Đại bi Quán thế Âm Bồ tát ngày đêm không dứt, nhờ đó mà cảm đến Bồ tát. Ngài thị hiện và để lại bài kệ 4 câu như sau:

Đại trí phát nơi Tâm
Nơi Tâm không thể tìm
Thành tựu mọi ý nghĩa
Không nghĩ cũng không bàn

Người nông phu trì tụng bài kệ trên đúng 100 ngày thì chân bị tật liền
lành hẳn.
Hiếu Thuần nghe nói vậy, liền bảo đứa cháu và bà Vú phát tâm trai giới
thanh tịnh, tụng bài kệ trên thì trải qua ba tháng, đứa bé đi đứng như những đứa trẻ bình thường khác. Không chỉ những người có con cháu bị bệnh về chân như con của Hiếu Thuần mà cả những người tâm trí kém cõi, Thuần đem bài kệ trên bảo họ học và thành tâm trì tụng thì cũng đều có kết quả linh nghiệm.

(Trích Quán Âm Từ Lâm)

23. Triều nhà Tống, niên hiệu Thuần Hy, năm thứ 5, có Quan Đô tuần kiểm tên La Sanh tại Nhiêu Châu. Nhân lúc tỵ nạn lụt đến nhà Vương Mẫn Tài mục kích được một việc thật hy hữu. Trong nhà ấy có một tỳ nữ tên là Đại Hỉ, đôi mắt bị mù đã lâu năm lại thường bị đau nhức. Một hôm, Cô nằm mộng thấy có một Lão Tăng đến bảo rằng: “Đại Hỉ, Thầy rất mừng cho con.Con thật có phước duyên nên mới được đến ở trong nhà này, nếu không đến ở đây, con sẽ thành một phế nhân vĩnh viễn. Hôm nay Thầy đem thuốc này đến cứu con.”
Nói dứt lời, Lão Tăng liền trao cho Đại Hỉ một chén thuốc, Cô liền bưng
lấy uống, thì sau đó bổng thấy đôi mắt mình đã sáng lại trở lại. Cô kính cẩn cúi đầu chào lão Tăng rồi hỏi: “Thưa Đại sư, Ngài từ đâu đến?” Lão Tăng đáp:
“Thầy là người ở trong nhà này đã lâu lắm rồi, nghe con đau mắt ngày
đêm la khóc, Thầy rất thương xót nên đem thuốc cứu bệnh cho con.”

Đại Hỉ giật mình tỉnh giấc thì trời đã sáng, Cô mở mắt ra thì chẳng những mắt sáng lại như xưa mà còn long lanh trong suốt rất đẹp và các chứng đau nhức cũng khỏi hẳn. Mọi người trong nhà thấy vậy đều lấy làm lạ, và bàn tán cho là việc chưa từng có. Họ cùng nhau đến hỏi thăm nên Đại Hỉ đem việc trong mộng thuật lại, Mẫn Tài đem việc ấy thưa với Mẫu thân thì Bà bảo rằng: “Đây là Đấng Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát! Con nên biết nhà của Mẹ thành kính thờ phụng Ngài đã nhiều năm, khi nào có tai nạn cấp bách, nếu lễ bái cầu đảo đều được linh hiển.”

(Trích Linh Nghiệm Ký)

24. Tại xứ Đài Châu có vị Tăng tên là Sử-Thao, lúc trung niên Thầy bị bệnh mắt nên thường trì tụng Chú Đại Bi. Một hôm, Thầy nằm mộng thấy Quán Âm Đại Sĩ truyền dạy cho Thầy bài kệ tụng, lại bảo mỗi ngày sớm mai thức dậy múc một chén tịnh thủy, đốt hương lễ bái rồi tụng bảy biến kệ xong, đem nước ấy đi rửa mắt. Thầy Sử Thao vâng lời làm theo sư chỉ bảo; thì bệnh mắt liền sáng lại và lành hẳn. Thầy hưởng thọ 88 tuổi.
GHI CHÚ: Người ghi lại sự tích này chính bản thân bị bệnh mắt đã hơn một tháng, nhờ Y sư Tôn-Chấn-Nguyên truyền dạy cho bài kệ ấy, Tôi đã thực hành đúng như lời hướng dẫn và quả nhiên cũng được linh nghiệm. Vì thế, Tôi không dám yên lặng và vì muốn lợi ích cho mọi người nên kính cẩn ghi vào sách bài Kệ tụng ấy như sau để cho người có lòng tin nơi đức Quan Âm được nhiều lợi ích:

“Đại bi Cứu khổ Quán Thế Âm
Xin ban cho con đại an lạc
Xin ban cho con đại phương tiện
Diệt trừ ngu si con hết tội
Tất cả chướng ngại trong hiền kiếp
Vô minh cùng với các tội ác
Ra khỏi trong nhà tối của con
Khiến con mắt sáng trông thấy Phật
Con nay trì tụng pháp rửa mắt
Sám trừ tội ác của nhãn căn
Phóng Tịnh quang minh khắp soi sáng
Nguyện được thấy rõ tướng vi diệu”

[ ](https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1737254316553895&set=gm.919670098153147&type=3&eid=ARC4hS_ONOB-or8RMV4hpQEI7hSkKqyfhgloqAczGVwSJBUFoVeLhkOit2lr4SnJeK3Uv44anLxQtmS6&ifg=1)

Nguồn: Nhân quả chuyện linh ứng có thật.

Related Articles

Responses