PHƯỚC BẤT KHẢ HƯỞNG TẬN

PHƯỚC BẤT KHẢ HƯỞNG TẬN
( Có phước chớ nên hưởng hết )

Ở Ấn Độ thời Đức Phật còn tại thế, có một vị minh quân nhân từ đức độ, do không có thái tử nối dõi nên ông rất sầu muộn.
Một hôm nọ Phật du hóa đến nước này, quốc vương liền rời cung đến bái kiến, lắng nghe Phật thuyết pháp, tâm tư vô cùng hoan hỷ, ông xin thọ ngũ giới. Với lòng tin thành kính, ông giữ giới tinh nghiêm, siêng năng tu không chút biếng lười những mong sinh được một hoàng tử.
Khi đó ông có một viên hầu cận trung thành của vua, chàng rất tin Phật, hành xử uy nghi, cử chỉ trang trọng, tính khiêm cung, giỏi nhẫn nhịn. Chàng rất tinh tấn tu tập, hàng ngày thời khóa không hề bê trễ, không biết mỏi mệt, trải qua bao năm dài.
Một ngày nọ chàng lâm trọng bệnh và đột ngột qua đời. Sau khi chết đi, thần thức chàng đầu thai vào làm con quốc vương. ( Người đời cứ thấy người tu hành siêng năng chết sớm thì cho rằng nhân quả không công bằng, nào đâu biết người kia chết sớm để chuyển sang một kiếp khác tốt đẹp hơn)
Tất nhiên, chàng được lập làm Thái tử, quốc vương băng hà, chàng lên nối ngôi.
Do ra đời trong sự khát khao của hoàng tộc cho nên chàng được sủng ái cực kỳ. Thêm tuổi trẻ mà sớm được lên ngôi, cộng thêm sự nuông chiều của người xung quanh, những yếu tố đó đã góp phần làm hư hỏng vị tân vương.
Chàng sinh tính kiêu mạn phóng túng, ham hưởng thụ ăn chơi, chẳng để mắt gì tới quốc sự. Do vậy mà triều chính tác tệ, dân lành khốn khổ lầm than.
Phật biết rõ nguồn gốc chàng, xót thương người lầm đường nên Phật liền dẫn chúng đệ tử sang nước của tân vương để giúp chàng thức tỉnh.
Tân vương nghe báo tin Phật quang lâm, liền làm đúng theo nghi lễ hoàng gia tiếp đón Phật rất long trọng.
Phật hỏi:
– Đại vương! Nhân dân và mọi người trong cung của quý quốc đều tốt đẹp cả chứ?
Tân vương thưa:
– Đất nước trẫm nhờ ân đức của Ngài nên tất cả đều an ổn cả!
Phật bảo:
– Đại vương! Ngài có biết rõ kiếp trước mình từ nơi nào sinh vào đây và đã từng tạo phúc điền gì mà được làm vua hay không?
Tân vương thưa:
– Trẫm ngu muội nên không biết, xin Thế Tôn chỉ bảo giùm!
– Xưa, ông đã từng làm năm việc thiện nên mới được phúc làm quốc vương. Năm việc đó là:
1. Hay bố thí cho người nghèo khổ. Nhờ vậy mà giờ thân ở trong gác tía lầu vàng hưởng dụng cao sang, được nhân dân tôn kính.

2. Ông thường phát tâm trùng hưng, xây dựng chùa miếu, chí thành tin thờ Tam bảo, lại hay cúng dường chúng tăng từ thuốc men, y phục vật thực, chỗ ở… ông cung cấp không thiếu thứ gì. Do vậy mà giờ được làm vua, ngồi trên cao xử lý việc nước, hưởng vinh hoa phú quý tột đỉnh.

3. Ông siêng năng lễ bái Tam bảo, quý trọng người tu hành, luôn khiêm cung, biết tôn trọng bậc đạo đức. Nhờ vậy mà giờ được làm vua, dung mạo khôi ngô, người nhìn ái kính.

4. Xưa ông giàu lòng nhân từ, tính bao dung, lại giỏi nhẫn. Ông luôn giữ gìn thân khẩu ý nghiêm ngặt, không bao giờ tạo ác nên giờ được phước làm vua, được người xung quanh nể trọng nuông chiều, ai thấy ông cũng sinh lòng hoan hỷ mến mộ.

5. Xưa ông dốc lòng học đạo, tu theo Phật pháp, biết vun bồi trí tuệ, tư cách luôn quang minh chánh trực, hành xử rất có uy nghi. Nhờ vậy mà được làm vua đứng trên thiên hạ, nắm việc quyết đoán quốc sự, để tiếp tục làm việc ích nước lợi dân.
Tóm lại, do ông đã tạo được năm đại công đức ấy cho nên đời đời được làm quốc vương.
Rồi Phật nói kệ:

Kiếp trước tạo phúc điền
Đời này thân tôn quý
Thường sinh vào chốn lành
Dùng đức an thiên hạ
Thực hành theo chánh pháp
Vua cai trị dân chủ
Yêu dân như con mình
Đem bản thân làm gương
Dạy dân theo chánh pháp
Chỗ an không quên nguy
Hưởng phúc đừng phóng dật
Hành thiện, phúc mới bền.

Phật bảo tân vương:
– Ông kiếp trước là người hầu của tiên đế, nhờ ông tin theo Phật, tạo đủ phúc đức nên được sinh làm con vua, kế thừa vương vị. Ngày nay ông được đại phú đại quý, lại sinh tâm phóng túng kiêu mạn đánh mất phẩm chất tốt xa xưa. Ông phải biết, là vua thì phải hội đủ năm điều tốt mới có thể trị nước an dân. Đó là:
1. Cai trị dân không nên lạm dụng hình phạt.
2. Nuôi dạy tướng sĩ tùy thời ban lệnh, không lạm dụng quyền uy, không tùy tiện sai họ.
3. Ra sức vun bồi đức hạnh, hết lòng với nhiệm vụ, tạo phúc không ngừng.
4. Tin tưởng và trọng dụng lương thần, tiếp thu lời trung ngôn nghịch nhĩ, không mê đắm lời nịnh hót làm tổn hại lòng chánh trực.
5. Tiết chế sự hưởng thụ dục lạc, không bê tha, dốc hết tâm ý vào việc trị nước, mong đem lại sự phú cường hạnh phúc cho nhân dân. Lúc nào cũng nghĩ đến hạnh phúc của dân, đặt hạnh phúc của dân làm đầu.
Nếu như ông có thể thực hành năm điều này thì cả thiên hạ đều quy kính, phúc tự nhiên đến. Còn nếu bỏ phế năm việc này, tất nước nhà không phát, nhân dân khốn khổ. Ông được làm vua là để mang lại hạnh phúc cho dân, chứ không phải để làm khổ dân. Nếu dân khổ thì loạn lạc tật dịch sẽ phát sinh, vận nước suy vi. Là vua mà không đức hạnh chỉ làm toàn chuyện xấu thì tương lai thân bại danh liệt, phúc hết họa sinh.
Rồi Phật kết luận:
Làm người trong thế gian
Minh chánh không tà vạy
Điều tâm khử cái ác
Thế mới là minh quân
Thấy chánh thì thưởng ban
Lòng nhân ái giúp dân
Rộng làm lợi ích khắp
Thế mới là minh quân.

Phật nói xong, quốc vương cảm động rơi lệ, nhờ thần lực của Phật ông nhớ lại tiền thân, liền sụp xuống đảnh lễ Ngài, tạ ân chỉ dạy. Ông phát nguyện đời đời tu thân tích đức, sống lợi mình lợi người. Lòng đầy hoan hỷ và hối cải, tân vương chứng sơ quả.

*****************************************

PHẢI QUÁN VÔ THƯỜNG

Thuở ấy khi Phật đang thuyết pháp tại tinh xá Kỳ Viên nước Xá Vệ thì có bảy ông lão Bà-la-môn từ phương xa tới, đảnh lễ Phật xong họ chắp tay thưa:
– Chúng con ở xa, từ lâu được nghe danh Ngài giảng kinh giáo hóa, rộng độ chúng sinh, rất muốn tìm đến quy y song còn gặp nhiều chướng ngại, mãi tới hôm nay mới đủ duyên diện kiến Thánh dung. Chúng con xin được làm đệ tử Ngài, xin theo Ngài học đạo để diệt trừ hết mọi đau khổ.
Phật nhận họ làm Sa môn và cho bảy người ở chung một chỗ. Song không lâu họ lại sinh tật biếng lười, chẳng chịu quán vô thường, chẳng biết mệnh người mong manh ngắn ngủi; hàng ngày mải tơ tưởng đến thế sự phồn hoa, bàn chuyện tào lao ầm ĩ, họ chẳng ý thức phản tỉnh, cứ đắm mình trong thú vui phù phiếm của thế gian.
Phật biết thọ mệnh của họ sắp hết, lòng rất xót thương liền đi đến chỗ của họ, bảo:
– Các ngươi nói là vì muốn học đạo, cầu thoát ly tam giới nên tới đây, vậy thì vì sao bây giờ suốt ngày chỉ biết tán gẫu cười đùa rùm beng?
Ở thế gian có năm điều khiến người ta hay ỷ lại là:
1. Cậy mình đang tuổi niên thiếu, còn nhiều thời gian
2. Cậy mình dung nhan xinh đẹp
3. Cậy mình cường tráng khỏe mạnh
4. Cậy mình giàu có
5. Cậy mình là dòng dõi quý tộc quyền thế.
Bảy người các ông tuổi già gần xuống lỗ thế mà suốt ngày toàn nói chuyện tào lao, không lo tu, vậy các ông ỷ vào cái gì?
Rồi Phật nói kệ:
Vui gì? Cười gì?
Niệm si hừng thịnh
Nhiễm tục u ám
Chẳng biết định tâm
Thấy thân còn tốt
Yên chí là an
Chạy theo vọng tưởng
Chẳng biết vô thường
Già thì sắc suy
Bịnh đến xấu xí
Cứ mê ngũ dục
Mệnh tận không hay
Chết rồi xác rã
Thần thức mịt mờ
Chẳng đáng buồn sao?
Phật nói xong, bảy người đều tỉnh ngộ, tâm ý mở sáng, họ sửa đổi lo tu, vọng niệm dừng lặng và họ chứng A-la-hán.

***********************************

GÌ LÀ KHỔ NHẤT?

Thuở ấy, lúc Phật ở tại tinh xá Kỳ Viên, có bốn vị tỳ kheo đến ngồi dưới cội cây cùng bàn chuyện: “Trong thế gian gì là khổ nhất?”
Vị đầu tiên mở lời:
– Khổ trong thiên hạ, chẳng gì qua ái dục!
Vị thứ hai phát biểu:
– Khổ trong nhân gian chẳng gì bằng sân giận!
Vị thứ ba không đồng ý, nói:
– Khổ trong nhân gian chẳng gì qua đói khát!
Vị thứ tư khẳng định:
– Khổ trong nhân gian chẳng gì bằng sợ hãi!
Trong khi họ đang bàn cãi thì Phật đi đến, hỏi họ tranh luận về vấn đề gì. Họ đảnh lễ Ngài và trình lên quan điểm riêng của mình. Phật dạy:
– Này các tỳ kheo! Các ông chưa hiểu hết nghĩa khổ. Khổ trong thiên hạ chẳng gì bằng có thân. Tai họa của đói, khát, nóng, lạnh, sân giận, sợ hãi, sắc dục… đều từ thân này mà sinh ra cả. Cho nên nói: “ Thân này chính là cội nguồn, là căn nguyên của tất cả khổ đau!”. Các ông cả ngày nhọc nhằn lao tâm khổ trí, mọi loài giết hại nhau, cũng là vì cái thân này hết trọi. Bởi vậy mới dẫn đến trầm luân sinh tử luân hồi không ngừng. Nếu muốn thoát khổ thì phải nhiếp ý, chánh tâm, xa lìa vọng tưởng điên đảo, như vậy mới đạt được an vui, đây mới là hạnh phúc bậc nhất!
Rồi Phật nói kệ:
Tất cả các khổ
Đều do có thân
Hạnh phúc tối thượng
Chính là Niết bàn
Khéo dùng trí tuệ
Thu nhiếp vọng tưởng
Gìn thân khẩu ý
Ít muốn, biết đủ
Tất sẽ được an
Vô ưu, thoát khổ
Phật nói xong, bảo bốn vị tỳ kheo:
“Thuở xa xưa về trước có một vị tỳ kheo đắc ngũ thông tu hành trong núi. Khi đó có bốn con vật là bồ câu, quạ, rắn và nai cùng cư ngụ cạnh vị tỳ kheo.
Một đêm nọ bốn con vật cùng tranh luận “gì là khổ nhất”. Con quạ nói:
– Khổ trong thế gian chẳng gì bằng đói khát. Đói khát khổ lắm, lúc bị đói khát hành thì sức lực cạn kiệt, thần trí mê muội, bởi vậy mới nhắm mắt nhắm mũi lao vào lưới thợ săn rồi bị sát hại! Dòng họ chúng tôi do vậy mà bị diệt vong, vì thế tôi mới nói đói khát là khổ nhất!
Chim bồ câu than thở:
– Dục nhiều là khổ nhất vì khi tình dục phát khởi thì đầu óc u ám, gì cũng không biết, thậm chí tánh mạng bị nguy hại cũng do dục mà ra!
Con rắn khẳng định:
– Sân là khổ nhất, khi lòng tôi mà nổi sân lên thì hết biết trời đất, lúc đó có thể lạm sát người và giết cả chính mình.
Con nai không đồng ý:
– Sợ hãi là khổ nhất! Khi chúng tôi đi trong rừng mà bị thú dữ săn đuổi thì hồn vía không còn, lúc đó chỉ biết chạy bán mạng, ruột gan vì vậy mà bị dập nát. Qua đây thì đủ thấy sợ hãi là khổ nhất!
Vị tỳ kheo nghe xong liền bảo chúng:
– Những điều các người nêu ra tuyệt chẳng phải là khổ nhất, khổ trong thiên hạ chẳng gì qua có thân. Thân là khí cụ thọ khổ, khiến chúng ta lo sợ đủ chuyện. Bởi vậy ta mới xả hết dục tình tới đây tu hành, lo đoạn trừ vọng niệm, không tham luyến cái thân thể hư giả này! Nếu muốn cắt đứt cội rễ khổ đau thì chỉ có nước tu hành mới thoát ly buồn phiền, hưởng vui vĩnh cửu. Đây mới là hạnh phúc thực sự.
Bốn con thú nghe xong tâm ý liền mở sáng.”
Phật bảo bốn tỳ kheo:
– Vị tỳ kheo đắc ngũ thông thuở ấy là tiền thân ta, còn bốn con thú kia nay chính là các ngươi. Kiếp xưa các ngươi đã hiểu rõ về khổ rồi, tại sao giờ còn tranh luận như vậy?
Các tỳ kheo nghe Phật nói, tỉnh ngộ, không bàn cãi nữa, họ lo tu tập và chẳng bao lâu thì chứng quả.

Nguồn: chuyện nhân quả

Related Articles

Responses