NHỜ ĐÚC TƯỢNG QUÁN THẾ ÂM – NÊN THẤY ĐƯỢC PHẬT A DI ĐÀ – VÃNG SANH VỀ CỰC LẠC !

NHỜ ĐÚC TƯỢNG QUÁN THẾ ÂM – NÊN THẤY ĐƯỢC PHẬT A DI ĐÀ – VÃNG SANH VỀ CỰC LẠC !

Sư Thích Tự Giác người Vọng Đô, Bác Lăng. Năm mười tuổi, Sư làm đệ tử ngài Trí Khâm chùa Khai Nguyên, nơi quận Sư cư trú. Ngài xét thấy Sư có ý chí hơn người nên đặt tên là Tự Giác.

Nhân đó, ngài nói đùa:
– Tên đầy ý nghĩa, hẳn có được lợi ích gì chăng ?

Sư trả lời:
– Hạt giống Phật do nhân duyên sinh khởi, con đâu thể quên lời dạy của thầy !

Niên hiệu Chí Đức thứ hai (757) đời Đường, Sư thụ giới Cụ túc. Sau, đến chùa Thiền Pháp ở Linh Thọ học các kinh luật của Tiểu thừa và Đại thừa, Sư phân tích, giải thích rõ ràng.

Thời gian sau, Sư suy nghĩ:
– Việc đời vô số, mỗi ngày càng nhiều. Nếu vào Thái Sơn có được am tranh trên tảng đá để ở thì cũng đủ lắm rồi !

Niên hiệu Đại Lịch thứ nhất (766), Sư đến viện Trùng Lâm phía tây huyện Bình Sơn, nói:

– Núi vắng không người, phiền muộn chẳng sinh, phiền muộn chẳng sinh chẳng phải là hợp với lời Phật dạy vô văn ưC?

Ở đây từ trước đã có quỷ thần nên suốt ba năm Sư giảng pháp cho họ nghe.

Niên hiệu Đại Lịch thứ năm (770), trời hạn hán, giặc cướp nổi lên như ong, lại thêm núi rừng rậm rạp, cọp sói dẫy đầy. Sư nhặt quả rừng, ngày chỉ ăn một bữa. Tiết độ sứ Trương Chiêu ở Hằng Dương nhận thấy trời đại hạn, biết Sư sống kham khổ tinh tấn, thường có cảm ứng điềm lành, nên đích thân vào núi thưa:

– Trương Chiêu không có tài trị quốc, gây họa lụy đến nhân dân, đã ba năm nắng hạn, không một giọt mưa. Tôi tự trách bản thân mình không giúp ích gì cho trăm họ !

Ông lại nói:
– Nghe nói Long Vương cùng quyến thuộc theo Sư nghe pháp nên quên việc làm mưa. Mong Sư từ bi xót thương mọi người thì Trương Chiêu không còn lo lắng nữa !

Sư liền đốt hương, hướng nhìn đầm nước từ xa chú nguyện:

– Mong Long vương làm mưa thấm nhuần. Nếu không như thế thì Long vương lấy gì làm đức ?

Trong khoảnh khắc, từ bốn phía mây đen nổi lên, trời trút cơn mưa lớn. Năm ấy, nhân dân ở Hằng Dương bội thu mùa vụ.

Từ khi xuất gia đến bấy giờ, có lần Sư đã phát bốn mươi chín lời nguyện. Lời nguyện thứ nhất là nhờ bồ-tát đại bi Quán Thế Âm để Sư gặp được Đức Phật A-di-đà.

Do đó, Sư quyên góp tịnh tài, đúc tượng Đại Bi Quán Thế Âm cao bốn mươi chín thước và xây một ngôi chùa để tôn trí. Khi chùa xây xong, Phật sự đã thành, Sư đến trước tượng Đại Bi Quán Thế Âm cúi đầu rơi lệ nguyện rằng:

– Thánh tượng đã đúc, chùa đã xây xong, con nguyện nương thánh lực sớm sinh An Dưỡng !

Canh ba đêm ấy, Sư chợt thấy có hai luồng ánh sáng lành, ở giữa luồng ánh sáng sắc vàng ấy có Đức Phật A-di-đà cưỡi mây đi xuống, bên cạnh có bồ-tát Quan Âm và Thế Chí. Phật đưa cánh tay sắc vàng xoa đầu Sư, nói:

Giữ gìn bản nguyện kiên cố
Lợi ích chúng sinh làm đầu,
Ao báu là nơi vãng sinh
Ai cũng được như nguyện !

Thoáng chốc, ánh sáng mất, đám mây tan hoàn toàn không còn dấu vết.

Ngày rằm tháng bảy niên hiệu Đại Lịch thứ mười một (776), Sư nhìn thấy một người hiện nửa thân hình trên đám mây, có hình dạng giống như Tì-sa-môn. Vị đó cúi xuống nói với sư:

– Đã đến lúc ông về An Dưỡng rồi !

Ngay ngày đó, Sư đem việc ấy kể lại, đồng thời khuyên bảo đệ tử tinh tấn tu hành, dũng mãnh trong giáo pháp của Như Lai, không sinh tâm biếng nhác.

Sau đó, Sư đến trước tượng Đại Bi Quán Thế Âm ngồi kết già viên tịch. Đệ tử muốn đặt Sư vào linh cữu đưa về núi cũ, nhưng mọi người ở châu này nài thỉnh giữ lại, nên đã xây tháp Sư ở phía nam chùa Đại Bi.

Trích Bốn Chúng Vãng Sanh

Nguồn: nhân quả- luân hồi

Related Articles

Responses