LINH ỨNG NIỆM PHẬT A DI ĐÀ

LINH ỨNG NIỆM PHẬT A DI ĐÀ

Một cư sĩ tên Trần Phi Lâm, kể cho tôi nghe chuyện li kì của cô cháu gái anh. Cô cháu họ này mới đầu không tin Phật và cực lực phản đối lòng thành tin Phật của ông chú.

Nhưng Trần cư sĩ rất từ bi, hễ gặp mặt là khuyên cô ta niệm Phật, giảng cho cô ta nghe về đời người ở thế gian khổ nhiều, vui ít, tai nạn nhiều, nghịch cảnh nhiều, phiền não nhiều, muốn lìa khổ được vui cần phải niệm A Di Đà Phật, lúc nguy cấp, sợ hãi càng phải cố sức niệm A Di Đà Phật. Nhưng cô cháu của ông cũng chỉ như đàn khảy tai trâu, không chịu nghe theo!

Khoảng mười mấy năm về trước, cháu gái của Trần Phi Lâm muốn dời nhà đến Hoa Liên kinh doanh buôn bán, cư sĩ Phi Lâm liền thỉnh tượng Tây phương Tam Thánh, lộng kiếng, tự mình đem đến bến xe Đài Đông cho cô ta.
Lúc chia tay ông còn ân cần dặn đi dặn lại cô cháu phải chí tâm thành ý niệm A Di Đà Phật. Cô cháu họ Trần sau khi dời đến ở Hoa Liên kinh doanh buôn bán rất tốt.
Có một hôm do việc làm ăn cô đi vào làng, đến nửa đêm mới cỡi xe đạp về nhà, đi qua một con kênh bên đường lúc không để ý cả người lẫn xe đồng rơi xuống con kênh.

Con kênh này chỉ sâu hơn người một chút mà thôi, tự mình rất dễ leo lên. Lúc đó cô cháu họ Trần phủi bụi đất trên mình, rồi xem lại tứ chi, không có bị thương chút nào hết, liền lo kéo chiếc xe đạp lên, lúc muốn kéo lên đó, lại rất kỳ quái, phía dưới nước dường như có người kéo xe trở xuống.
Cứ thế, hễ kéo lên được một khúc lại bị lực gì đó kéo trở xuống, lặp đi lặp lại mấy lần, y như ma làm. Lúc đó cô cháu họ Trần sợ đến nỗi lông tóc dựng đứng, sợ đến nỗi hồn bất phụ thể.
Đúng lúc tiến thối lưỡng nan, không có cách nào, liền nhớ đến việc ông chú ở Đài Đông thường dạy cô niệm Nam Mô A Di Đà Phật, khi gặp lúc tai nạn nguy cấp càng phải to tiếng niệm Phật.

Cô cháu họ Trần liền chắp hai tay lại, cố sức to tiếng niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Thành tâm thành ý niệm được khoảng nửa tiếng đồng hồ thân tâm cảm thấy an nhiên, tâm sợ hãi đã không còn nữa.
Bỗng nhiên trên đường có một chiếc xe ba bánh chạy đến, người tài xế đánh xe đến trước mặt cô cháu họ Trần, thắng xe lại, không nói một tiếng nào, liền đến giúp cô kéo chiếc xe đạp lên. Lạ chưa, ban nãy cô còn như kéo co với dòng nước mãi không kéo lên được, nay người tài xế nhấc lên một cách nhẹ nhàng.
Rồi anh ta lại mời cô cháu họ Trần lên xe ba bánh, đưa xe đạp đặt lên trên xe, người tài xế liền chở cả cô cháu họ Trần lẫn xe đạp về đến cổng nhà của cô.

Cô cháu họ Trần trong lòng rất cảm tạ người đánh xe trẻ tuổi, mạnh khỏe này, sau khi xuống xe, muốn lục túi lấy tiền nhiều một chút cho anh ta, nhưng kì lạ, lúc quay đầu lại thì không biết đã đi đâu mất rồi!
Lúc đó đã là nửa đêm, cũng không biết tìm ở đâu. Qua ngày hôm sau, sáng sớm cô vẫn cứ nhớ cái ân của người đánh xe ba bánh, muốn biếu chút tiền cho anh ta, liền đến bãi xe ba bánh tìm trong mấy người phu xe, hỏi tới hỏi lui cả ngày, mọi người đều nói tối hôm qua không có ai chở cả người lẫn xe ở đó cả.

Sau đó cô liền nghĩ lại sự cảm ứng lúc đang nguy cấp cố sức niệm A Di Đà Phật mới có sự hóa hiện xe ba bánh đến cứu mình.

Cô ta lại nhớ đến tượng Phật của ông chú đưa cho ở bến xe Đài Đông, liền về nhà lục tìm xem, chỉ thấy tướng hảo trang nghiệm của Phật A Di Đà rất giống với phước tướng của anh tài xế xe ba bánh kia.
Lập tức treo lên, rất là cung kính mua về hương hoa quả phẩm, đèn cầy để cúng dường lễ bái. Lại nhớ đến tinh thần từ bi của ông chú, đích thật là ân sâu như biển, liền từ Hoa Liên đi về Đài Đông đến chú Trần Phi Lâm nói ra việc cảm ứng này. Câu chuyện trên đây là do chính miệng Trần cư sĩ nói với tôi.

(Trích “Những Chuyện Niệm Phật Cảm Ứng”
Tác giả: Lâm Khán Trị
Dịch giả: Thích Hoằng Chí)
___________________

CẢ ĐỜI NIỆM PHẬT, KHI RA ĐI HÀO QUANG SÁNG CẢ VÙNG

Ông Nguyễn Văn Hai (1875 – 1973). còn gọi là ông Hai Núi Cấm, quê ở Bình Hòa 1, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Ông Hai lập gia đình, sinh sáu người con, đều là gái cả. Ông có đức tính điềm đạm, chân thật và thích giúp người.

Khi 62 tuổi, bà Hai qua đời. Ông thường đọc kinh sám, nhận thấy đời người ngắn ngủi giả tạm, kiếp sống vô thường, có sinh tất có diệt, nếu không sớm tỉnh thức tu hành, thì tử thần đến phải gánh lấy khổ đau và tiếp nối tử sinh theo bánh xe luân hồi vô cùng vô tận. Do đó, ông quyết định dọn vào núi Thiên Cẩm Sơn một bề lo phần tu niệm.

Suốt thời gian sống ở núi Cấm 29 năm trời đăng đẳng, ông Hai chuyên tu Tịnh Nghiệp, sớm tối lễ Phật, trì niệm sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật !”, thiết tha cầu sanh Cực Lạc.

Khi ngồi niệm an nhàn, lúc nghiên tầm kinh kệ. Nếu có ai viếng núi mà không biết đường, ông phát tâm dẫn hộ. Ngoài ra, ông Hai còn có một đức tính rất đặc biệt, là ông không hề tìm nói những lỗi của người, mà lúc nào cũng xét sửa lỗi mình, nên ai ai cũng đều kính mến.
Ngày qua ngày mau chóng, khi ông Hai 91 tuổi, các con xin ông trở về Cái Dầu để tiện bề chăm sóc. Bởi tuổi già sức yếu, thường sinh bệnh hoạn, ông cũng tự thấy mình ở núi non đơn chiếc khó khăn nên ông về Bình Long, ở nhà người con gái thứ hai vì cô này cũng trường chay niệm Phật.

Năm 94 tuổi, ông thấy trong người yếu dần, có lẽ thấy mình sắp sửa bỏ xác nên một hôm, cháu của ông là cô Trịnh Thị Liễu đến thăm và cũng có đủ mặt các con của mình, ông nghiêm nghị nói:
– Cháu Liễu à! Hôm nay có đủ mặt các cô của con đây. Ông Hai hỏi con nè! Con có thương ông Hai không?
Cô trả lời:
– Dạ! Thương!
Ông nói tiếp:
– Ờ! Nếu thương thì y lời dặn của ông. Bây giờ, ông còn bình tĩnh sáng suốt lời nói của ông là chân thật ngữ. Các con cháu đã biết chí nguyện của ông, đó là: sống thì giữ giới tu hành; chết thì vãng sanh Cực Lạc. Chứ không có con đường nào khác cả.
Nếu lỡ khi nào bệnh nhiều, ai xúi dùng đồ mặn, dù đó là thuốc tiên con cũng khuyên mấy cô của con đừng cho ông uống nữa nghe con! Còn nếu lúc ông lỡ mê không biết, mà con cháu đổ đồ mặn thì khi biết được, ông cũng tự tử mà chết.

Còn nếu nghiệp quá nặng nề mà ông đòi ăn bậy bạ thì các con cháu cứ chôn sống ông đi! Chứ đừng chiều theo. Vì đó là ma nói chứ không phải ông nói, lời nói đó là tà ngữ chứ không phải là chánh ngữ nghe con!

Ông sợ các con ông thương cha trong tình thương mê muội thế gian mà phá hoại trai giới của mình. Mà các con cũng phải trả quả sau này.

Đến ngày 14 tháng 06 năm 1973, ông kêu các con cháu lại rồi dặn dò hậu sự, khuyên nhắc tu hành.
Tới khuya, khoảng 3 giờ ông bảo cô Hai dâng hương đều các ngôi thờ, rồi đưa cho ông 3 cây hương và 1 cây đèn cầy, còn các con cháu thì mỗi người 1 cây hương, cùng nhau đồng thanh niệm Phật.
Niệm được một lúc, ông Hai niệm lớn “Nam Mô A Di Đà Phật”, mỗi niệm ông xá một xá, niệm 3 lần, xá 3 xá rồi qua đời.
Ông hưởng thọ 94 tuổi, nhằm ngày 15 tháng 6 năm 1973.
Lúc đó, các nhà lân cận cũng thức sớm làm bánh để đi chợ bán. Họ thấy ánh sáng lạ, không biết điềm gì, chạy ra xem thì thấy áng sáng từ hướng Tây bay đến nhà ông Hai.
Họ vô nhà thì thấy ông Hai vừa tắt thở nên đồng quỳ xuống đảnh lễ ông. Bấy giờ cô Hai, người con lớn của ông cản lại nói:
– “Xin bà con đến lạy Phật! Chứ đừng lạy cha tôi! Cha tôi xác phàm, quý vị lạy tổn đức cha tôi, tội nghiệp!”
Họ bèn nói:
– “Không đâu! Ông Hai đắc đạo rồi, xin cô cho chúng tôi lạy để gieo duyên với ông!”
Cô Hai hỏi:
– “Sao quý vị biết cha tôi đắc đạo?”
Họ đáp:
– “Còn gì nữa mà không đắc đạo! Khi ông Hai mất, hào quang hiện sáng cả vùng. Chúng tôi thấy vậy mà không biết điềm gì, cùng nhau chạy lại đây mới hay ông Hai mất đó!”
_Thuật theo lời cô Trịnh Thị Liễu_

(Trích sách “Chuyện Vãng Sanh” – Nhóm Liên Hữu Miền Nam Đất Việt – Hiệu đính: Nguyễn Minh Tiến).

__________________________

VÃNG SANH BIẾT TRƯỚC NGÀY THÁNG

Ông Nguyễn Từ Tâm sinh năm 1912, nguyên quán tại ấp Bình Hưng II, xã Bình Mỹ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
Cha là Nguyễn Văn Tú, mẹ là Lê Thị Hạnh. Song thân đều mất sớm, tục danh thường gọi là ông Hai Chư. Đến khi trưởng thành, ông lập gia đình, sinh được một người con là Nguyễn Thị Nhuận.

Vì thức tỉnh cuộc đời giả tạm, kiếp sống không lâu, vui ít khổ nhiều thiên tai nhân họa, bệnh lão hành thân, nên ông quá chán ngán cho kiếp phù du, phát tâm Bồ Đề bèn ly gia hành đạo.
Ông vào chùa Từ Quang, chuyên lo tu niệm, chùa này cũng ở xã Bình Mỹ, nơi ông cư trú.

Ông có đức tánh chân thật, hiền lành, hòa ái, vui tươi nên từ lớn chí nhỏ, từ các bạn đồng tu trong chùa cho đến ngoài thôn xóm, từ gần đến xa, ai ai cũng đều cảm mến.

Ông hành trì giới luật tinh nghiêm, trường chay chín chắn, chân chất tu hành, thiết tha trên con đường giác ngộ giải thoát.
Sau một thời gian nghiên cứu tận tường Phật Pháp, trao đổi giáo lý với các bậc cao minh cùng quý thiện tri thức, ông quyết định chọn pháp môn Tịnh Độ làm nơi quy hướng. Có người hỏi:
– Tại sao huynh lại chọn pháp môn Tịnh Độ để tu?
Ông đáp:
– Sở dĩ tôi chọn pháp môn nầy để tu là bởi vì pháp môn nầy dễ hành, dễ thành. Vấn đề trì danh niệm Phật ai cũng làm được: “Sáu chữ nam Mô A Di Đà Phật: đi đứng, nằm, ngồi ráng niệm chớ quên không đợi gì thời khắc…”.
Hơn thế nữa, tu môn Tịnh Độ ngoài vấn đề tự lực ra, chúng ta còn được diễm phúc nhờ đến phần tha lực rất nhiều, do 48 lời đại nguyện của Đức Từ Phụ A Di Đà.
Từ xưa đến nay, đã có vô số người đới nghiệp vãng sanh. Điều đó đủ để hùng biện chứng minh rằng lời đại thệ nguyện của Đức Phật A Di Đà là chơn thật ngữ vậy! Bao nhiêu sự tích từ xưa đến nay, đều đã được vãng sanh là động cơ mãnh liệt, giúp cho chúng ta thêm niềm tin sâu đậm về pháp môn này.
Còn thời gian tu chứng thì nếu ai thiện căn sâu đậm có thể đắc tam muội hiện tiền, còn chậm hơn thì cũng:
“Mãn kiếp hồng trần sanh Lạc Quốc,
Hưởng công niệm Phật rất yên lành!”
Do tham khảo rõ ràng, suy nghiệm kỹ càng minh bạch nên tôi quyết định chọn pháp môn Tịnh Độ này để tu.

Đức hiền của ông không riêng chỉ cảm hóa nhiều người kính mến, mà luôn đến loài vật cũng cảm ái vô cùng.
Như có một mùa nước nọ, nơi cây cầu tắm rửa, ở ngang hông chùa phía Đông Bắc, có một con cá lóc lớn độ nửa cân thường nằm ở đấy. Vì nước trong dễ thấy, ông Từ Tâm thấy cá lóc dạn quá, dễ thương, bèn lấy tay rờ thử, cá cũng không chạy tránh. Kể từ ấy, cá cứ ở đó cho ông bắt, ông thường dùng tay nâng nó lên khỏi mặt nước cho người xem, cá vẫn nằm im không giẫy giụa, rồi ông lại thả cá về nước.
Tin này được đồn lan, khách đến viếng chùa từ nhỏ tới lớn đều yêu cầu ông Hai bắt cá cho xem. Ông đến cầu lấy tay búng mặt nước vài cái và gọi:
– Lóc! Lóc! Lóc!
Lóc liền nổi lên, ông dùng tay nâng cá lên cao cho mọi người xem.
Ai nấy trầm trồ:
– Ngộ quá! Thật ngộ quá!
Ở phía Tây Nam chùa có cây phượng vĩ to cao, hoa khá đẹp và nhiều cây vú sữa cành lá sum xuê. Chiều nào cũng có các đàn chim bay về để ngủ, trước khi ngủ nó reo vang, như đàm thoại cùng nhau rất lý thú, nhất là các chú chim sẻ. Thấy có một con chim đậu thấp ông Từ Tâm bèn lấy tay rờ thử, nó vẫn không bay.
Ngộ thay! Loài thú cầm nó cũng có linh tánh, biết người hiền nên vẫn an nhiên không sợ sệt.
Ông Từ Tâm vẫn thường hay bệnh hoạn, nhưng không nặng lắm, có lần cô Út Đồng đến hỏi:
– Thưa huynh Hai! Sao mỗi lần tôi đến viếng chùa, đều thấy huynh đội khăn choàng hầu. Bộ ít khi nào huynh khỏe lắm hả huynh Hai?
Ông đáp:
– Tôi ít khi nào khỏe lắm cô à! Nhưng thường đau thế thôi chứ không có gì nặng lắm. Tôi nghĩ đó là do nguyện của tôi từ lúc mới phát tâm tu!
Cô Út hỏi:
– Huynh Hai nguyện như thế nào?
Ông đáp:
– Tôi nghĩ ai cũng có nghiệp, không nhiều thì ít. Có vay thì tất có trả. Khi vay vui vẻ thì lúc trả cũng phải bằng lòng. Nên tôi nguyện nếu có trả quả thì bệnh lai rai, vừa đau nhưng cũng vừa hành đạo được, chừng nào trả hết nghiệp thì sẽ vãng sanh. Nhưng có điều, khi vãng sanh thì đừng đau ốm gì cả. Vì sợ cực khổ cho đồng đạo chăm sóc cho mình nhiều quá.
Cô Út lại hỏi tiếp:
– Như vậy, chừng nào thấy huynh mạnh khỏe là huynh sắp tịch phải không huynh Hai?
Ông cười đáp:
– Dạ! Chừng nào cô thấy tôi hồng hào, thì tôi sắp vãng sanh đó!

Năm 1972, cô Út có dịp đến viếng chùa Từ Quang, thấy sắc thái ông Hai ra vẻ hồng hào, tươi nhuận. Cô Út hỏi:
– Thưa huynh Hai! Độ này chắc huynh khỏe lắm hả huynh Hai?
Ông đáp:
– Tôi lúc này thật khỏe rồi cô ạ!
Cô Út liền nhắc lại chuyện cũ:
– Huynh nguyện khi nào huynh mạnh là sắp tịch! Bây giờ huynh gần tịch chưa? Thưa hiền huynh?
Ông bèn đáp:
– Tôi gần tịch rồi cô ạ!
Sau khi cô Út về không bao lâu, vào mùa đông năm Tân Hợi 1972, ông đi thăm viếng người thân và đồng đạo rất nhiều. Đến đâu ông cũng tha thiết kêu gọi khuyến khích mọi người đều nên niệm Phật, hầu trực vãng Tây Phương, vì nơi ấy rất an lành và vui vẻ lắm!
Ông có đến nhà cô Năm Lý, cô này trường chay đã lâu. Ông khuyến tấn niệm Phật và trao tặng vật lưu niệm. Ân cần dặn dò:
– Đây là vật kỷ niệm, hễ cô thấy nó là nhớ tôi nhắc niệm Phật, đừng quên nhé!
Chúng tôi có ý nghĩ, chắc ông Từ Tâm đã biết được ngày tháng vãng sanh, nên ông đi thăm viếng các nơi, hình như để từ giã chứ bình thường ông ít đi đâu lắm, vì tính ông trầm tĩnh, cẩn thận nên những điều gì biết ông chẳng chịu nói ra.

Thấm thoát đã đến cuối đông. Đêm mùng 5 rạng ngày mùng 6 tháng chạp năm Tân Hợi 1972, có ông Như Sanh là người bạn tri âm tri kỷ ở trại cây Cần Thơ về thăm.
Đôi bạn thâm tình cùng nhau đàm luận rất vui vẻ, nói chuyện cho đến khi đồng hồ báo hiệu 12 giờ khuya, ông Từ Tâm bảo:
– Thôi chúng ta hãy trở về chỗ nghỉ vì đã đến giờ tịnh tọa!

Mọi người đều đồng ý trở về liêu xá của mình, sáng sớm bạn Như Sanh đến từ giã để trở về Cần Thơ cho kịp giờ buôn bán. Khi đến nơi liêu xá, bước lên gác lầu thốt lời giã biêt. Không nghe đáp lại, ngỡ bạn ngủ ngon, ông Như Sanh lặp lại lớn hơn nhưng vẫn không nghe trả lời. Ông Như Sanh sinh nghi liền lấy tay sờ thử thì cơ thể cậu bạn Từ Tâm đã lạnh ngắt tự bao giờ.
Ông Như Sanh bèn cho các đồng đạo hay. Khi tề tựu đến, quan sát kỹ thì thấy ông Từ Tâm nằm dài, xuôi tay xuôi chân khỏi sửa, gương mặt vui tươi lạ thường, mền mùng xếp để gọn gàng có trật tự.

Và ngạc nhiên nhất, mọi người thấy nơi cây cột vuông phía Tây, ông Từ Tâm đã viết bằng phấn lên mấy mấy chữ từ bao giờ: “Ngày 6 tháng 12 Từ Tâm tịch”
Vậy là ông đã biết trước ngày tháng Phật rước, từ giã mọi người xong xuôi, ông tự mình an tịnh niệm Phật và được Vãng sinh. Ông hưởng thọ 60 tuổi.

*Phụ Bình:
Ngẫm qua về sự đi thăm viếng thân nhân và đồng đạo.
Qua sự đề ngày tịch trên cây cột.
Qua sự sắp xếp mùng mền để có trật tự và nằm xuôi tay khỏi sửa.
Qua gương mặt hân hoan kỳ diệu cộng với sự công phu tu hành chín chắn mấy mươi năm trong đời. Chúng ta có thể quả quyết rằng ông Từ Tâm đã đắc sanh Tịnh Độ, chúng ta nên mừng và nên noi gương Tịnh hạnh ấy.

_Thuật theo lời Liên hữu Như Quang_

(Trích sách “Chuyện Vãng Sanh” – Nhóm Liên Hữu Miền Nam Đất Việt – Hiệu đính: Nguyễn Minh Tiến).

Đời vô thường mong manh dễ vỡ
Có gì đâu như giấc mộng mê mờ
Buông đôi tay, tâm này về với Đạo
Bình an bất diệt với hư vô.
(Quang Tử)
_____________________

* Công đức chia sẻ Phật Pháp là vô cùng vô tận, có thể làm tiêu trừ nghiệp chướng, thay đổi vận mệnh, tăng trưởng duyên lành.
Xin bạn hãy mạnh dạn chia sẻ các bài viết Phật Pháp, giúp cho ngày càng có nhiều người được tiếp cận với đạo lí, trên đền ơn Phật, dưới cứu độ muôn loài! Nam Mô A Di Đà Phật ! __()__

Trang Fanpage Quang Tử còn rất nhiều bài viết tương tự. Để không bỏ sót bài viết quan trọng nào, vui lòng bấm vào đường link bên dưới để xem ⬇️⬇️⬇️
https://www.facebook.com/quangtu.chuyennhanqua/

TẶNG KINH SÁCH
( Xin đừng copy thông báo này đăng trong các bài viết khác, vì chương trình ấn tống thường xuyên thay đổi số điện thoại, thời gian, danh mục sách… )
Bạn muốn đọc thêm những sách nhân quả, cũng như muốn thỉnh kinh điển Phật Pháp về đọc tụng, vui lòng gọi điện vào số: 0376309077 xin gặp Ban Ấn Tống, báo họ tên, địa chỉ, số điện thoại (xin gọi, đừng nhắn tin, đừng xin thỉnh tại phần Bình luận) Ban ấn tống sẽ gửi tặng bạn như yêu cầu, PHÍ VẬN CHUYỂN (SHIP) NGƯỜI NHẬN TRẢ.
Giới hạn : mỗi người thỉnh tối đa 5 cuốn
XIN ĐẶC BIỆT CHÚ Ý:
1. Không xin thỉnh giùm cho người khác. Kinh sách chỉ dành cho người có tâm cầu Đạo, khao khát cầu được kinh sách. Những người như thế không có ngại gì việc gọi một cuộc điện thoại để thỉnh.
2. Những người có thói quen không nghe điện thoại khi có số lạ gọi đến, và không thể sửa được thói quen này, xin đừng thỉnh sách. Vì khi bưu tá dùng số lạ gọi đến, không nghe máy, kinh sách sẽ bị chuyển ngược về Ban ấn tống, ảnh hưởng xấu đến nhiều người, đánh mất duyên lành của mình với Pháp Bảo.
3. Xin giữ thái độ tôn trọng, lịch sự khi thỉnh kinh sách, điều đó cũng thể hiện tâm cầu Đạo của người thỉnh. Ban ấn tống sẽ từ chối tặng sách với những cuộc gọi thiếu lịch sự. Và đồng thời xin nói ngắn gọn vào vấn đề, vì mọi người trong Ban ấn tống thường rất bận, ví dụ như : “ Ban ấn tống vui lòng cho tôi thỉnh những cuốn sách sau …”
Danh mục những kinh sách tặng :
– Bệnh viện trả về, Phật Pháp cứu sống
– Báo ứng hiện đời 1
– Báo ứng hiện đời 3
– Báo ứng hiện đời 4
– Giai nhân áo phượng ( Báo ứng hiện đời 6)
– Quê hương Cực Lạc
– Cô Ba Cháo Gà
– Nhân quả Phụ Giải Lương Hoàng Sám 2
– Những chuyện niệm Phật cảm ứng
– Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục
– Kinh Địa Tạng
– Kinh Vô Lượng Thọ
– Kinh Dược Sư
– Kinh Diệt Tội Trường Thọ Hộ Chư Đồng Tử Đà Ra Ni
– Kinh Phổ Môn
– Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện
– Từ Bi Thủy Sám
– Kinh Thiện Ác Nhân Quả
– Nghi thức chú Đại Bi – Thập chú
– Kinh A Di Đà
– Nghi thức Cầu siêu oan gia – thai nhi- duyên âm- phóng sinh.
Do số lượng có hạn, nên một số đầu sách sẽ hết trước, mong các bạn thông cảm.
Sau khi đăng kí thành công, sau vài ngày nhân viên shiper sẽ gọi điện cho bạn.
VUI LÒNG KHÔNG TẮT MÁY, VÀ TIẾP NHẬN CUỘC GỌI TỪ SỐ LẠ.
Các bạn vui lòng đọc kĩ hướng dẫn và làm theo, những đăng kí sai hướng dẫn ban ấn tống sẽ tự động bỏ qua, mong các bạn thông cảm.

Related Articles

Responses