ĐỐT HAI NGÓN TAY, KHOÉT THỊT LẤY MỠ ĐỐT ĐÈN CÚNG DƯỜNG PHẬT ĐƯỢC KHAI MỞ TRÍ TUỆ.

ĐỐT HAI NGÓN TAY, KHOÉT THỊT LẤY MỠ ĐỐT ĐÈN CÚNG DƯỜNG PHẬT ĐƯỢC KHAI MỞ TRÍ TUỆ.
(Trích “Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục” – Ấn Quang Đại Sư Giám Định).

Năm Dân Quốc thứ 16 (1927) tôi cùng Quách Hàm Trai cư sĩ đi Chùa Phổ Đà, rồi đến A Dục Vương Tự để chiêm bái Xá Lợi.
Đầu tiên đến Thiên Đồng Tự lễ Phật. Thiên Đồng là một Đạo Trường xưa có tiếng. Cách Dục Vương tự cũng gần.

Cuối đời nhà Thanh, vị cao Tăng Bát Chỉ Đầu Đà trụ trì ở Chùa này. Bát Chỉ Đầu Đà xuất thân là con nhà nông. Cha của Đầu Đà là tá điền của cư sĩ Quách Hàm Trai. Khi còn nhỏ cư sĩ đã cùng Đầu Đà chơi đùa với nhau. Khi lớn lên thì Đầu Đà thường đến chơi với các vị Tăng, rồi xin làm đồ đệ, không được đi học, chỉ ở Chùa học đọc Kinh Kệ rồi biết chữ, tư chất cũng đần độn, rất lấy làm lạ là vì sự hiểu biết về nghĩa kinh có hạn. Đầu Đà bèn đến Chùa Phổ Đà và đến Dục Vương Tự lễ cầu Xá Lợi xin được mở mang trí tuệ và ở lại Dục Vương Tự được mấy năm.

Ngày Phật Đản, Đầu Đà đốt hai ngón tay cúng dường Phật, nên chỉ còn tám ngón, nên gọi là Bát Chỉ Đầu Đà. Một năm sau vẫn thấy trí tuệ chưa được khai thông, Đầu Đà bèn khoét thịt trên vai, lấy mỡ thắp đèn, rồi đi Trường Sa. Khi qua động Đình Hồ, Đầu Đà lên Nhạc Dương Lầu, thấy trên vách có câu thơ rằng:
“Động Đình Ba Tống Nhất Tăng Lai”.
Khi đến Trường Sa gặp một vị Tăng, Đầu Đà bèn lấy câu thơ đó hỏi. Vị Tăng đó nói rằng:
– Câu thơ rất tốt, sau này ông sẽ thành một nhà thơ!
Nói xong, vị Tăng bèn dạy Đầu Đà đọc ba trăm bài thơ Đường.

Trước đây, Đầu Đà chưa được học bài thơ cổ nào, nhưng từ sau khi trở về Dục Vương Tự thì đối với các sách, Kinh điển bắt đầu hiểu nhiều, giải hành tương ứng, được các nhà Sư khen ngợi.

Và từ đó Đầu Đà bắt đầu tập tu khổ hạnh, bất luận thức ăn gì thừa trong bếp cũng đều lấy mà ăn, không kiêng cữ gì. Cũng từ đó, Đầu Đà nổi tiếng là một nhà thơ hay.

Cuối đời nhà Thanh, nhà thơ nổi tiếng là Vương Quân Nhiệm thường đến xướng họa. Sau Đầu Đà đến Thiên Đồng Tự ở Ninh Ba làm Phương Trượng, hơn mười năm sau thì mất. Ngoài cửa Thiên Đồng Tự có xây tháp để kỷ niệm. Cạnh tháp có cất ba ngôi Chùa, trong đó có thờ tượng Đầu Đà.

Tôi vào Chùa nghe giảng Kinh, còn Quách cư sĩ thì đến tháp Đầu Đà niệm Phật hơn hai tiếng đồng hồ, nói là đến thăm bạn cũ.
Trong Chùa có trồng cây dài hơn một dặm. Chúng tôi đi vào hàng cây. Quách cư sĩ đi trước hơn mười bước, ông nhìn trước nhìn sau hỏi tôi rằng:
– Ông có ngửi thấy mùi thơm không?.
Tôi trả lời:
– Không!
Lại đi thêm mười bước nữa, ông lại quay đầu lại hỏi:
– Có ngửi thấy mùi thơm không?.
Tôi lại nói
– Không!
Lại đi thêm mấy chục bước nữa. Sau đó ông Quách nói cho tôi hay là mùi thơm phảng phất từ đây cho tới cuối rặng cây mới ngưng, đó là Đầu Đà thị hiện linh cảm đấy.

Từ xưa tới nay, những ai được Thiền Tông Đại Sư khai ngộ rất nhiều, có người được khai thông trí tuệ. Đầu Đà khổ hạnh tu hành, được khai thông ngộ tuệ, người từ xưa chưa được đi học mà biết làm thơ, và cách vần điệu của thơ rất cao. Đó là một điều khó, rất hiếm có. Sau khi Đầu Đà mất, thi nhân Trần Tản Nguyên khắc lại trong tập thơ của Đầu Đà, và lời tựa của Vương Nhậm Thu viết rằng:
“Thi cách của Đầu Đà rất cao, có thể so với nhiều tác phẩm có tiếng trong thơ Đường”.
Năm sau lại viết thêm là:
“Lời tựa của tôi nói là, thơ của Đầu Đà so với tác phẩm thơ Đường. Nay nghĩ lại là không đúng, vì thơ của Đầu Đà nhiều tác giả còn chưa hay bằng”.
Cả hai lời tựa đều được khắc vào trong tập thơ của Đầu Đà.
Như vậy đủ biết rằng thơ của Đầu Đà rất là đáng khen. Con đường làm thơ, người bình thường không dễ gì hiểu thấu. Các cuộc thi cử đời nhà Thanh cũng có nhiều người làm thơ. Nhà Hàn Lâm Viện làm thơ lấy cung chỉnh là chính, còn những lời lẽ thơ thì gắng gượng, góp nhặt miễn cưỡng, dưới mắt của các thi nhân thực không thể đăng đại nhã chi Đường. Còn thơ của Đầu Đà mới đầu thì chưa ra gì, nhưng thành thơ hay vì sau đọc được nhiều thơ cổ, vì ít học nên không biết nhiều Kinh điển để vận dụng. Chỗ hay là ở sự miêu tả hồn nhiên, tình cảnh tả thực, cho nên có nhiều vần hay và phong độ cao.

Lâm Ngữ Đường, một nhà văn mới có viết là:
“Trong mười nhà thơ hay thì hết chín người là Phật học gia”.
Sau khi khai ngộ bởi Thiền Tông, có thể luận đạo diệu kỳ. Biện tài vô sự, cũng không ngoài văn tự Bát Nhã. Việc thị hiện mùi hương linh cảm ấy có thể biết được rằng Đầu Đà đã thành tựu thật cao, lại sánh ngang hàng với các thi nhân đời Tấn Ngụy Lục từ đời Đường Tống trở đi. Chín trong mười người là những tư tưởng gia Phật học, hoặc có niềm tin di truyền, lại thêm đầy đủ Phật học.

Chỗ Phật học là trừ ngã chấp và công phu ấy là vô thỉ vô chung. Trừ ngã chấp thì chơn tướng biểu lộ. Tôi và Quách cư sĩ đến Dục Vương Tự đảnh lễ Xá Lợi (là Phật thân sau khi hỏa táng thì kết thành những viên nhỏ).

Hai năm trước tôi có đến lễ bái một lần rồi. Xá lợi được đặt trong Tháp, bên cạnh có khe để ta nhìn thấy. Xá lợi lớn như hạt tiêu, được gắn vào miếng kim khí hình cái khánh màu vàng treo chính giữa. Trước kia chúng tôi thấy cái khánh gắn xá lợi màu vàng. Lần này chúng tôi thấy miếng kim khí gắn xá lợi lại là màu lam thẫm. Chúng tôi nghi là điềm không lành. Bèn cùng nhau sám hối. Tối hôm đó chúng tôi cùng nhau vái lạy chừng mười lần. Sáng hôm sau thức dậy, chúng tôi đến vái lạy thì thấy cái khánh đã đổi thành màu vàng. So với hai năm về trước chúng tôi thấy không khác gì.

Tôi nghĩ xá lợi gắn trên miếng kim khí hình khánh màu vàng, nhưng hôm qua tại sao lại đổi màu lam thẫm? Sáng hôm nay lại đổi màu vàng. Các thiện tín như Tăng, Ni, cư sĩ, mỗi ngày đến chiêm bái xá lợi cũng khá đông. Sau khi chiêm bái xong, có Trực điện Tăng đến dẫn mọi người ra ngoài sân, quỳ trước bồ đoàn, thì thấy mỗi người nhìn thấy các màu sắc khác nhau. Có người thấy màu trắng, có người thấy màu đỏ, có người thấy màu đen, có người không thấy gì, hỏi nhiều người nhưng đều trả lời khác nhau, không ai nhìn thấy giống ai cả. Đó có lẽ là tùy theo nghiệp chướng của mình mà nhìn thấy màu sắc khác nhau.
(Cư Sĩ Lâm – Địa Tạng Hội Linh Cảm Ký Thuật).

Related Articles

Responses