CÔNG ĐỨC TÔN TẠO HÌNH – TƯỢNG PHẬT

CÔNG ĐỨC TÔN TẠO HÌNH – TƯỢNG PHẬT

Mỗi một ý niệm , mỗi một hành động dù là nhỏ nhất hướng đến Phật_ Bồ Tát đều đem đến cho ta phước báu vô lượng hoặc quả báo vô lượng khổ, vì các ngài là đấng tối tôn, tối thượng của vũ trụ pháp giới, là đấng vĩ đại của những đấng vĩ đại. Sinh vào thời mạt Pháp, chúng ta không có may mắn được gặp Phật với kim thân sáng chói, uy nghiêm rực rỡ, chính vì thế bao nhiêu tình cảm, bao nhiêu niềm tôn kính ta chỉ có thể dâng lên Đức Phật cùng các vị Đại Bồ Tát thông qua hình – tượng Phật và Bồ Tát.
Mặc dù không phải Phật, nhưng hình – tượng Phật chính là đại diện của Phật trên thế gian này, là cầu nối giao cảm để chúng ta dâng kính lên Đấng Từ Phụ những điều tốt đẹp nhất. Vì lẽ đó, mọi phước báo, quả báo liên quan đến hình tượng Phật – Bồ Tát đều được nhân lên gấp bội bội lần, hoặc phước vô lượng, hoặc tội khủng khiếp.

Phúc đức thay cho những ai đã -đang và sẽ tôn tạo,đúc tạc, tô vẽ, trang nghiêm hình Phật, tượng Phật. Đáng thương thay cho những ai xúc phạm, bôi nhọ, phá hủy hình – tượng Phật dù cho là một hình Phật nhỏ nhất .
Điều đáng buồn là hiện nay xã hội đang vô tình xúc phạm đến hình Phật một cách vô tư, ngay cả trong những hàng đệ tử Phật. Việc gì ư?
Người ta đem hình Phật- Bồ Tát in trên những lọ dầu, lọ chao hay hộp nhang, nến .v.v…sau khi dùng xong liền quăng bỏ vào thùng rác bẩn thỉu, hay ném dưới mặt đất cho người , súc vật trà đạp lên. Thật mọi người không hiểu hết được đó là tội phỉ báng Phật, quả báo khôn lường.
Hay có người lại in hình Phật – Bồ Tát dán lên xe như thứ đồ trang trí, như một loại ” bùa ” , hay đeo những trang sức hình Phật rồi đi vào nơi ô uế như nhà vệ sinh, và làm những điều dâm dục trước hình Phật đeo trên người đó. Hoặc lập bàn thờ trong nhà , nhưng ngay dưới bàn thờ, mọi người thoải mái cởi trần, ăn nhậu, chửi bới, thậm chí hành dâm trước bàn thờ một cách hồn nhiên…

Mỗi mõi hành vi tưởng như vô hại đó đều khiến ta tổn phước ghê gớm nếu không muốn nói là vô cùng tội. Xin mọi người hãy nhớ, hình – tượng Phật, Bồ Tát chỉ có thể để nơi trang nghiêm để thờ phụng, để lễ lạy. Phải tôn kính hình- tượng Phật, Bồ Tát giống như đang đứng trước một vị Phật sống, Bồ Tát sống vậy, làm trái đi điều này là tự gieo quả báo khổ đau cho mình.

Ngược lại, những ai thấy hình – tượng Phật bị quăng bỏ, bị xúc phạm, bị phá hủy mà ngăn cản , hay đem hình – tượng Phật đó về tu sửa , thờ phượng, hay chí ít thì cũng lấy tâm cung kính mà rửa sạch, sau đó đốt rồi đem tro rải nơi sông suối hay biển cả. Làm như thế ta sẽ được phước báo to lớn không ngờ.

Phước báo của việc tôn tạo, tô vẽ, sửa sang hình tượng Phật _ Bồ Tát :

– Thân tướng trang nghiêm , đẹp đẽ
– Thân thể khỏe mạnh, bệnh tật tiêu trừ
– Giải trừ tai ách, khổ nạn
– Được thành tựu điều mình mong cầu
– Được thần linh bảo trợ và vô số phúc lành khác
– Đạo hạnh tăng trưởng đến vô lượng, cuối cùng sẽ thành Phật.

Ngược lại là những quả báo của việc hủy báng, phá hoại hình – tượng Phật và Bồ Tát :
– Quỷ thần trừng phạt tức khắc
– Gia đạo suy vong, khổ đau, tai ách, bệnh tật liên tiếp kéo tới
– Đọa địa ngục chịu vô lượng khổ
– Tái sinh làm ngạ quỷ, súc sinh hoặc người hèn hạ, tàn tật…

Xin được kể ra đây một số câu truyện liên quan đến phước báu của việc tôn tạo cũng như quả báo của việc hủy báng hình- tượng Phật và Bồ Tát.

Xin mọi người cũng lưu tâm điều này, khi ta tạo tội đối với hình- tượng Phật mà chịu sự báo ứng, đó chẳng phải sự trả thù của Phật , ngài là đấng Từ bi đâu bao giờ muốn gieo khổ đau cho chúng sinh, mà đó là do sự trừng phạt của luật Nhân quả. Luật Nhân quả này là vô tư, công minh tuyệt đối, sự trừng phạt của luật Nhân quả không gì làm sai khác đi được, vì thế không nên vô cớ trách Phật – Bồ Tát mà gây nghiệp xấu.

***********************
DÁT VÀNG TRANG NGHIÊM TƯỢNG PHẬT, LỬA NHẢY QUA KHỎI NHÀ

< Trích sách " Những chuyện niệm Phật cảm ứng " >

Sư tỷ Khoan Kim là một thành viên ban niệm Phật ở Đài Trung, Đài Loan, là người có đầy đủ căn lành từ kiếp trước, từ lúc mất con, quá đau buồn, liền tính kế dời chỗ ở, thay đổi hoàn cảnh, cho nên mười tám năm trước, lưu con trai trưởng ở lại quê, quản lý tài sản, mình thì dẫn đứa con thứ ba là Tấn Truyền dời đến ở xứ Hạn Khê ở Đài Trung, mướn nhà ở. Hai mẹ con nương nhau mà sống, tự lực cánh sinh, đến một nhà máy giày dép cao su làm thuê để sống, không bao lâu liền cùng với những vị liên hữu của vùng Hạn Khê, mỗi thứ hai cùng đến liên xã niệm Phật, thứ bảy cũng đến liên xã nghe kinh, làm một vị đệ tử Tam Bảo rất cung kính.

Có một hôm vào buổi chiều, sư tỷ từ nhà máy đi về nhà. Trên đường đi ngang qua cửa nhà của một cô gái ở vùng đó tên là Kê Thỉ, nhìn thấy đứa con nhỏ của cô ta trong tay cầm một tượng Quán Thế Âm Bồ Tát chơi dưới đất. Sư tỷ nhìn thấy, rất không nhẫn tâm, lập tức tìm mẹ nó nói: “Kê Thỉ, cô không nên tạo tội, tại sao lại để con nít giỡn chơi Thánh tượng Bồ Tát như thế? Như vậy sẽ tạo ra tội nghiệp rất lớn!”. Kê Thỉ liền đó trả lời sư tỷ rằng: “Đây là tượng mà mẹ chồng tôi hồi còn sống thờ cúng, tôi là người không có tin và lạy khúc gỗ đó đâu, tôi không cần, bà cần thì bà lấy đi là được rồi”. Sư tỷ Khoan Kim hớn hở ra mặt, thỉnh qua xem thì là một tượng Bồ Tát cao sáu, bảy tấc (Tàu) khắc bằng cây, mặt mũi đã hư hết, liền thỉnh tượng đó đến cửa hàng làm tượng Phật, dùng hơn 100 đồng dát vàng cho tượng Bồ Tát, rồi an vị trong nhà thờ cúng, sớm tối lễ bái cung kính, xưng niệm Thánh hiệu Bồ Tát, thật là pháp hỷ sung mãn, tâm không rời Phật, Phật không rời tâm. Tôi liền hỏi thêm sư tỷ: “Còn người nữ không có căn lành kia hiện thế nào rồi?”. Sư tỷ nói: “Tội nghiệp người nữ tên hợp với đời thực này (Kê Thỉ tức là cứt gà) không bao lâu của cải tán thất, người không biết hiện giờ dời đi ở xứ nào rồi?”. Tôi nghĩ: Đây là một sự thật do vì ngu si không biết mà tạo nghiệp, nên chịu lấy ác báo.

Qua hơn một năm, một hôm lúc sư tỷ làm việc ở công xưởng, bỗng có một người hớt hải đến nói rằng: “Bà ơi, Bà! nhà gần bên nhà của bà bị cháy, hiện lửa lớn đang cháy lan sắp sửa cháy nhà của bà rồi”. Sư tỷ vừa nghe thật là hồn phi phách tán, vội vã chạy về nhà, trên đường bị té một cái, vừa bò dậy lại bị té nữa nhưng trong miệng của bà vẫn cứ niệm riết “Quán Thế Âm Bồ Tát”, thầm khấn Bồ Tát cứu khổ cứu nạn, may sao gặp một người đàn ông chạy xe đạp, xem thấy bà đáng thương như thế, hỏi rõ tình hình, liền dùng xe đạp chở đưa sư tỷ về nhà. Vừa đến nhà vừa xem thật là không thể ngờ, tại sao lửa biết nhảy qua khỏi nhà mình? Những nhà bên trái, bên phải đều bị lửa cháy thành tro, mà nhà của mình chính giữa lại còn nguyên? Nhiều người xúm lại chúc phúc cho sư tỷ, nói nhờ sư tỷ cung kính lạy Phật, Bồ Tát mà được cảm ứng. Điều kỳ lạ nhứt là mọi người đều nói: “Cửa của nhà bà khóa lại, tại sao lại có khói trắng thơm phức từng lọn từng lọn bay ra từ trong khe cửa, mọi người chúng tôi từ sanh ra đến giờ đều chưa từng ngửi qua mùi thơm nào như thế”. Sư tỷ nói: “Đây nhứt định là kỳ tích của Quán Thế Âm Bồ Tát hiển thị”. Câu chuyện trên đây là một trong những chuyện cảm ứng mà sư tỷ Khoan Kim do niệm Phật được chuyển nghiệp.

*************************************
HỦY BÁNG TƯỢNG PHẬT _ SINH CON MẶT QUỶ

(Trích từ Báo ứng hiện đời – Quả Khanh )

Một người mở một tòa soạn báo nhỏ ở Thái Lan tên là Từ Ô Mục, ai cũng gọi anh là “anh Mục”. Anh Mục là chủ tòa báo, tự mình đảm trách việc biên tập, phóng viên, in ấn, phát hành và quảng cáo. Tình trạng này thường gặp ở Thái Lan bởi vì các tờ báo mỗi tháng chỉ phát hành hai lần, cùng với ngày Nhà nước xổ số. Anh Mục là người rất nhiệt tình dốc tâm vì lợi ích của xã hội mà phục vụ nên được mọi người quý mến, thậm chí được sự tín nhiệm của nhân viên Nhà Nước, vì thế lần ra báo nào cũng đảm bảo số lượng nhiều.
Có một năm, thị trấn mà anh Mục đang sống có một ngôi chùa Phật, chủ trì và hòa thượng trong chùa quyết định xây một bức tượng cao lớn hướng ra ngoài trời. Nhân dân trong thành ai ấy đều góp tiền góp của, hy vọng bức tượng ấy sớm được hoàn thành. Lúc đó anh Mục, ông chủ tòa soạn nổi tiếng, không biết vì lý do gì mà đột nhiên đề lên mấy chữ công kích, huỷ báng chùa Phật, coi bức tượng Phật lớn ấy là bức tượng ma, tiếng Thái phát âm là “rơ sưa”.
“Rơ sưa” không hoàn toàn có ý nghĩa là tà quỷ yêu ma, mà nó còn có ý nghĩa là lớn, cao to đến nỗi không thể tả xiết, ở chùa người ta gọi là ma quỷ, ma có Phật ma ở trước cổng chùa, cứ thế huỷ báng chùa. Mọi người nghe nói đều cho là xây tượng ma. Đây là một thái độ bất kính. Thậm chí tờ báo còn nói rõ: Sau sự kiện xây tượng ma, mọi người phải đề phòng thiên tai, địch họa. Sự kiện này càng khiến cho chủ trì cùng các tín đồ Phật giáo phẫn nộ, không hiểu đã kết oán gì mà huỷ báng Phật tồi tệ như thế.
Ngôi chùa vốn được xây trên núi hoàn toàn không quyên góp bên ngoài, chỉ có những tín đồ tự nguyện quyên tiền trợ giúp. Trước đây nhà chùa cùng với tòa soạn chưa hề có mâu thuẫn gì, vả lại anh Mục và chủ trì đã từng biết nhau nhưng lần này xây tượng Phật, anh không những không ủng hộ mà còn huỷ báng công kích, luôn miệng nói rằng tượng Phật là hạo kiếp của thời mạt kiếp. Điều đó làm náo động toàn phủ khiến cho mọi người đều cho là chùa đang xây tượng ma.
Việc anh huỷ báng quá đáng như thế khiến cho mối quan hệ giữa anh và chùa Phật có một sự rạn nứt. Trong chùa có vị Bồ đại sư, vốn là vị cao tăng nhẫn nhục thâm hậu, lúc đầu còn mỉm cười thờ ơ trước sự huỷ báng của tòa soạn. Nhưng sau đó tất cả những tín đồ Phật giáo đều cho là tòa soạn hiếp người quá đáng, ỷ thế lực hiếp đáp Phật Tổ, huỷ báng Thánh Hiền, liền đến yêu cầu chủ trì kiện cáo tòa soạn vì tội miễu thị Phật giáo, khinh thường người xuất gia.
Lão hòa thượng lên tận tòa án để kiện tổng biên tập. Tin tức này nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh thành, tòa báo vốn truy tìm tin tức mới thì giờ đây chính nó lại trở thành tin tức nóng bổng khiến cho mọi người phải quan tâm. Ở các quán trà tiệm rượu, mọi người đều bàn tán xôn xao, ai cũng coi việc này rất lạ làm náo động cả thành, thậm chí có người dùng nó để đánh cuộc xem ai thắng trong vụ kiện. Người khác thì cho là lão hòa thượng đại biểu Phật Tổ, quan tòa sẽ đứng về phía hòa thượng, bởi lẽ đất Thái là đất Phật; cũng có người nghĩ anh Mục quyền cao chức trọng, quan tòa sẽ bênh vực, vả lại anh Mục trước khi trở thành biên tập cũng xuất thân từ nghề luật sư.
Lão hòa thượng hoàn toàn không có luật sư biện hộ, ông phải trình đơn kiện để quan tòa tham khảo. Vì Viện Kiểm Sát và quan tòa vô cùng kính trọng lão hòa thượng, đồng thời cũng là bạn giao hữu với anh Mục nên có ý muốn giải hòa. Một bên là hòa thượng, một bên là danh nhân. Cả hai đều được mọi người kính trọng khiến quan tòa thật khó xử, liền mời hai vị đến công đường đối chất.
Anh Mục tuy đã làm nghề luật sư nhưng lần này vẫn phải mời một vị luật sư danh tiếng để biện hộ. Vào ngày ra tòa ai nấy đều đứng ở trước xem, đông nghẹt đến nổi phá kỷ lục cao nhất từ khi mở tòa đến nay, họ phải xếp hàng ở trước hành lang để xem.
Viện kiểm sát sau khi đọc tờ báo và đơn kiện tụng của hòa thượng, liền hỏi luật sư của bị cáo có điều gì để biện hộ không? Luật sư bị cáo hoàn toàn nắm rõ vụ kiện liền giải thích một cách khéo léo rằng: chữ “ma” (tiếng Thái gọi là “rơ sưa”) là để chỉ tượng Phật lớn chứ không có nghĩa là “ma quỷ” như trong tiếng Anh vậy. Báo chí nói ở đây là xây dựng tượng Phật lớn, cả thành phố sắp gặp họa kiếp, tất cả đều là ý tốt. Nếu như nền móng và tượng Phật xây không được kiên cố thì sẽ gặp tai họa, dân trong thành sẽ bị thiệt hại, đó cũng đều là ý tốt muốn chùa cảnh giác, cẩn thận. Một trận cuồng phong bão táp như thế, vậy mà chỉ bằng những lời hay ý đẹp đã dập tắt lòng hận thù bốc lửa giữa họ. Quan tòa chờ hai bên hòa giải, bảo anh Mục xin lỗi hòa thượng đồng thời nói với hòa thượng vì lòng từ bi của Phật Tổ mà rộng lòng tha thứ. Lúc đầu hòa thượng còn chút cố chấp nhưng sau đó vì lòng hữu nghị và sự khuyên giải của xã hội mà bỏ qua chuyện này.
Câu chuyện giữa anh Mục và hòa thượng trải qua một trận tranh cãi quyết liệt, cuối cùng cũng kết thúc, làm cho một số người thất vọng.
Nhưng câu chuyện không dừng kại ở đó mà nó được tiếp diễn bằng một sự việc kì lạ, khiến mọi người ai nấy đều kinh ngạc.
Anh Mục và người vợ cùng tuổi (39 tuổi) có hai đứa bé trai và một bé gái. Nhưng điều kỳ lạ đã xảy ra, vợ anh lại sinh ra một đứa bé trai sáu ngón.
Việc nuôi con, sinh con là trách nhiệm của hai vợ chồng. Tuy cách mười năm mới mang thai có chút e ngại nhưng vẫn là lẽ thường vì tuổi tác của họ vẫn còn trẻ. Chỉ có điều là chuyện lạ đã xảy ra: Tuy sản phụ và thai nhi đều bình an vô sự, bé trai đều bình thường khoẻ mạnh, nhưng có ba vết nhăn trên trán, hai hàng lông mày đỏ nhô ra phía trước, khuôn mặt dẹp dẹp vuông vuông cùng với cái miệng to tướng trông giống hệt như một con quỷ, nhìn kỹ càng giống với con quỷ phía sau chùa. Y tá hộ sinh giật mình đến tái cả mặt. Tất cả bác sĩ, y tá đều vây xung quanh nhìn, mọi người đều không thể tin rằng con người lại có thể sinh ra đứa thai nhi như thế, đáng lẽ phải xuất thân từ ma quỷ. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, cuối cùng cũng phải đem về nuôi.
Nghe tin vợ anh Mục sinh ra một quái thai, đã chấn động cả bệnh viện và lan truyền ra ngoài, ai nấy đều đến xem, xem xong lại bàn luận, truy tìm căn nguyên. Căn nguyên chính là chỗ: Mấy năm trước, anh Mục đã dùng ngòi bút sắc bén huỷ báng tượng Phật, coi đó là xây tượng ma, lão hòa thượng cũng không có cách giải quyết. Tuy thời gian trôi qua đã lâu nhưng ma quỷ cứ theo sát anh, đầu thai vào nhà anh. Mỗi ngày đều có hàng ngàn người đến xem, náo loạn khiến cho hai vợ chồng tinh thần sa sút, đau khổ cực độ, chỉ muốn dọn nhà đi nơi khác. Nhưng dọn nhà không bao lâu lại có người biết đến, lại đến xem. Thậm chí các chương trình truyền hình quốc tế cũng muốn đến để quay phim chụp hình.
Đứa bé mỗi ngày một lớn khôn, cái miệng to tướng và một cặp lông mày đỏ ngày một hiện lên giống hệt như quỷ, nhưng kỳ dị thay răng của em ngày một nhọn hoắc trước tiên là răng nanh, dài đến tận môi. Trước tình cảnh ấy, anh Mục không thể không thừa nhận nhân quả báo ứng của mình, mấy lần muốn đầu độc chết con nhưng sau đó nghĩ lại dù sao đi chăng nữa cũng là máu mủ ruột thịt, chỉ biết dọn nhà tới, dọn nhà lui. Sau đó được một bác sĩ hoàng gia tiếp nhận điều trị phẫu thuật, đã cắt bỏ hai chiếc răng nanh nhọn nhưng vẫn không thể nào làm mất đi vết sẹo và cái miệng to ấy.

Hủy báng Tam bảo là tội lỗi vô cùng. Đây chỉ là hoa báo, hậu báo còn đáng sợ hơn nữa là địa ngục vô gián bao giờ thoát khỏi đây. Cần phải sám hối nhiều mới may ra chuộc lại lỗi lầm. A Di Đà Phật, chỉ vì chúng ta không tin Nhân Quả báo ứng nên hàng ngày Thân, khẩu, ý khởi lên toàn niệm tự tư tự lợi thật quá đáng sợ!
Chúng ta tu học cần phải phản tỉnh hàng ngày tâm niệm của chính mình.

***************************

PHƯỚC LÀNH & SỰ CẢM ỨNG KHI TÔN TẠO TƯỢNG PHẬT

Trích: Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục
Việt dịch: HT. Thích Thiền Diệu

Thích Huệ Cảnh, người Truy Châu, xuất gia tu ở chùa Ngộ Chân. Sau khi thế phát, Sư gắng công khai giới khổ hạnh. Lòng mến cảnh Tịnh độ, Sư tạo hai tượng Thích ca và Di đà, hằng lễ bái cúng dường.

Đến lúc sáu mươi bảy tuổi, ngày rằm tháng giêng, Huệ Cảnh nằm mộng thấy một vị Sa môn thân sắc vàng ròng, bảo rằng:

– Ngươi muốn thấy Phật và cảnh Tịnh độ chăng?

Đáp:
– Thưa, từ lâu tôi rất ước mong được chiêm ngưỡng!

Sa môn trao bát cho và bảo:
– Hãy nhìn vào trong bát!
Huệ Cảnh tiếp lấy và nhìn vào, bỗng như lạc đến cõi khác, thấy cảnh Tịnh độ rộng rãi trang nghiêm, các thứ báu đẹp lạ. Đất toàn bằng vàng ròng, đường sá có dây vàng làm ranh giới. Cung điện lầu các trùng điệp không cùng tận, trong đó các thiên đồng vui vẻ nhàn du. Chúng Bồ tát, Thanh văn đông như mây, rộng như biển, hội lại vây quanh đức Thế Tôn nghe thuyết pháp.

Lúc đó, Huệ Cảnh thấy vị Sa môn đi trước, mình nối gót theo sau, lần tới chỗ Phật. Đến nơi, vị Sa môn bỗng biến mất. Huệ Cảnh chắp tay đứng trước kim dung, bỗng nghe Phật hỏi:

– Ngươi có biết vị Sa môn dẫn đường đó chăng?

Đáp:
– Bạch Thế Tôn! Con không được biết.

Đấng Từ Tôn bảo:
– Đó là Phật Thích ca Mâu ni, còn ta là Phật A di đà, hai vị mà người đã tạo tượng. Phật Thích ca như ông cha, ta như bà mẹ, chúng sinh ở thế giới Ta bà như con khờ dại thơ ngây, lầm rớt xuống bùn lầy. Cha vào nơi bùn sâu bồng con lên, để trên bờ cao ráo sạch sẽ, mẹ lại ôm con nuôi nấng, dạy bảo đừng nên trở lại chốn bùn nhơ. Chúng ta cũng như thế. Phật Thích ca dạy dỗ chúng sinh mê tối trược ác ở cõi Ta bà, làm vị mở đường dẫn lối về nơi Tịnh độ. Còn ta ở cõi Tịnh độ còn bổn phận nhiếp hóa, khiến cho các chúng sinh ấy không còn luân hồi thối chuyển.

Huệ Cảnh nghe nói vui mừng khấp khởi, muốn đến gần tham bái đức Thế Tôn, nhưng cảnh tượng bỗng biến mất.

Tỉnh giấc, Sư cảm thấy thân tâm an vui, như vào thiền định. Từ đó, Sư càng tin tưởng sự cúng lễ tượng hai đức Như Lai.

Một hôm, Huệ Cảnh lại mộng thấy vị Sa môn khi trước bảo:

– Hai mươi năm sau, ngươi sẽ sinh về Tịnh độ.

Nghe lời ấy, ngày đêm Sư lại thêm tinh tấn tu hành, không khi nào biếng trễ. Đến năm tám mươi chín tuổi, một hôm nọ, Huệ Cảnh từ giã đại chúng, rồi an nhiên vãng sinh. Đang lúc ấy, có vị tăng ở phòng bên, nằm mộng thấy trăm ngàn Thánh chúng từ phương Tây đến rước Sư đi. Trên hư không, tiếng âm nhạc dìu dặt rồi xa nhỏ lần, nhiều người khác cũng được nghe biết.

(Trích lục: Tân Lục)

******************************
SỰ CẢM ỨNG THỜ HỌA TƯỢNG PHẬT A DI ĐÀ ĐƯỢC VÃNG SINH

Đời Tùy, Thích Huệ Hải, tục tánh họ Trương, gốc người ở Võ Thành, xứ Thanh Hà. Sau khi xuất gia, sư thường ngụ nơi chùa An Lạc tại Giang Đô. Tuy thông hiểu các kinh luận, sư không thích bàn diệu nói huyền, chỉ thành thật tu hành, lấy Tịnh độ làm nơi quy hướng. Hàng ngày, sư chuyên tịnh niệm Phật, được nhiều điều linh cảm.

Một hôm, có Tỷ kheo Thích Đạo Linh ở Tể Châu, đem một bức tượng cổ đến bảo:

– Đây là họa tượng đức A di đà Thế Tôn, Phật ở chính giữa, xung quanh là năm mươi vị Bồ tát, tất cả đều ngồi trên hoa sen. Tượng này khởi nguyên do một vị Bồ tát ở chùa Kê đầu ma bên xứ Thiên Trúc, dùng thần thông đến cõi Cực Lạc, mô tả lại kim dung để làm duyên tín hướng cho chúng sinh ở Ta bà. Bức tượng này là một trong các bức được truyền họa lại, nay tôi xin đem kính tặng.

Huệ Hải đã từ lâu tu Tịnh độ, lại được bức tượng ấy thật là thâm hợp với sở nguyện, tự nghĩ đây là một duyên lành. Vì thế, đối với bức tượng, Sư hết lòng thành kính cúng dường tôn phụng. Thường thường mỗi khi lễ sớm, nơi bức tượng bỗng chớp ra những tia thần quang sáng lạ. Thấy vậy, Sư càng tin tưởng, đem hết tâm tư họa lại một bức khác, nguyện nhờ công đức ấy sớm được thoát khổ, sinh về Tây Phương.

Năm sáu mươi chín tuổi, một đêm sau khi lễ sám, Sư đối trước tượng, ngồi kiết già trì niệm Phật thật lâu. Đến sáng thấy vẫn còn ngồi, chư tăng lại xem thì sư đã vãng sinh, gương mặt an hòa vui tươi như người còn sống.

(Trích lục: Đường Cao Tăng Truyện)
*************************

SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG A DI ĐÀ CAO BA TẤC CỦA THÍCH ĐẠO DŨ

Đời Tùy, Thích Đạo Dũ ở chùa Khai Giác, chuyên tu Tịnh độ. Sư có tượng Phật A di đà bằng gỗ chiên đàn, cao ba tấc mộc. Mỗi khi hành đạo, Sư thường để tượng Phật ấy trên đầu.

Một hôm, Đạo Dũ bỗng tắt hơi, nơi ngực còn ấm, bảy ngày sau chợt sống lại bảo:

– Trước tiên, tôi thấy mình cùng một hiền giả vãng sinh đến một ao báu bên Tây Phương. Hiền giả đi nhiễu quanh hoa sen ba vòng, hoa liền nở ra, vị ấy bước vào ngồi chính giữa. Tôi cũng đi nhiễu quanh hoa sen ba vòng, nhưng hoa không nở. Tôi vuốt mở cánh hoa, hoa theo tay héo rụng. Lúc ấy, Phật A di đà bỗng xuất hiện đến bảo: “Ngươi còn tội chướng, hãy trở lại cõi Ta bà dùng nước thơm tắm gội và sám hối. Chờ lúc sao mai mọc ra ta sẽ đến rước. Nhưng tại sao ngươi tạo tượng ta lại quá nhỏ?”. Tôi đáp: “Tâm lớn Phật lớn, tâm nhỏ Phật nhỏ”. Đáp xong tượng Phật bỗng lớn đầy khắp hư không”.

Nói đoạn, Đạo Dũ nhờ tăng chúng nấu nước thơm. Sau khi tắm gội sạch sẽ, Sư đến trước Phật chí tâm sám hối cả đêm. Khi sao mai mọc, Đạo Dũ bạch chúng xin trợ niệm. Đạo chúng tề tựu đông đủ niệm Phật được một lúc, tất cả đều thấy kim quang sáng rỡ, hóa Phật từ Tây Phương đến tiếp rước.

Nhìn lại thì Đạo Dũ đã chắp tay vãng sinh. Lúc ấy, nhằm niên hiệu Khai Hoàng thứ tám.

(Trích lục: Thoại Ứng Truyện)

SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU ĐƯỢC SONG THÂN

Trương Ngươn Thọ, người ở Tinh Châu, tuy có tâm lành, nhưng sống về nghề sát sinh. Sau khi cha mẹ qua đời, ông dứt nghiệp sát, phát tâm niệm Phật. Vì muốn cứu độ song thân, ông tạo tượng Phật A di đà cao ba thước, để thờ nơi gian nhà cũ của cha mẹ ở. Hàng ngày, Ngươn Thọ đều trì niệm lễ bái, hương hoa đèn nến thường tiếp tục luôn.

Một đêm, sau thời khóa lễ, ông nằm mộng thấy trong nhà hào quang rực rỡ. Trong ánh sáng có hơn hai mươi người thân tướng cao đẹp ngồi trên đài sen. Hai người trong đó bay tới trước kêu:

– Trương Ngươn Thọ!
Ông hỏi là ai, thì đáp:
– Chúng ta là cha mẹ của con lúc sinh tiền. Chúng ta tuy biết niệm Phật, nhưng vì ưa rượu thịt, giết hại loài chim cá quá nhiều, nên khi chết đọa vào địa ngục Khiêu Hoán. Tuy đọa địa ngục nhưng nhờ sức niệm Phật, nước đồng sôi hóa thành mát mẻ. Hôm trước, có vị Sa môn thân vàng cao ba thước, đến thuyết pháp. Chúng ta cùng hơn hai mươi người đồng nghiệp nơi địa ngục đều được thoát khổ sinh về Tây Phương. Do nhân duyên đó, chúng ta đến đây mách bảo cho con biết. Những vị ngồi đài sen đây là các vị đồng nghiệp được vãng sinh.

Nói xong, tất cả đồng bay về Phương Tây.

Tỉnh mộng, sáng ra Ngươn Thọ đến chùa đem việc ấy thưa hỏi. Một vị tăng bảo:

– Đó là do tâm hiếu kính tạo tượng của ông hiện thành sức cảm ứng, nên tượng Phật đến cứu thoát được các đồng nghiệp địa ngục, trong đó có lệnh từ nghiêm (nghiêm phụ, từ mẫu).

(Trích lục: Tinh Châu Ký)

SỰ CẢM ỨNG TẠO TƯỢNG PHẬT CỨU CHÚNG SINH Ở TAM ĐỒ

Thích Đạo Như, người ở Tấn Dương tại Tinh Châu. Sư chuyên tu Tịnh độ, là hàng đệ tử huyền tôn của Đạo Xước thiền sư. Đạo Như tâm tánh nhân từ, thương chúng sinh ở tam đồ hằng chịu khổ, phát nguyện tạo kim thân Phật A di đà cao một trượng sáu. Vì thanh tu, phương tiện thiếu kém, nên ba năm sau tượng mới hoàn thành. Sư hằng tinh cần cúng dường tượng, nguyện nhờ Phật lực, chúng hữu tình ở tam đồ được sớm siêu sinh.

Đêm nọ, đang ngồi tịnh niệm trước Phật tượng, Đạo Như chợt mơ màng đường vào mộng, thấy một vị minh quan đem điệp vàng đến bảo:

– Đây là điệp thư vua Diêm la tùy hỷ sự phát nguyện của pháp sư.

Đạo Như tiếp lấy mở ra xem, thấy trong đó đại khái nói: “Pháp sư vì thương xót muốn cứu chúng sinh chịu khổ ở tam đồ, nên tạo tượng Phật A di đà, tượng ấy thường vào địa ngục, phóng ánh sáng, thuyết pháp cứu độ chúng sinh, y như Phật sống. Sự lợi ích thật không thể nghĩ bàn! Những chúng sinh nghiệp nhẹ ở địa ngục đều lìa khổ được vui, thoát về nơi An Lạc…

Tỉnh lại, sư càng thêm chuyên tâm niệm Phật, cầu nguyện. Những ngày trai, nơi ngực tượng Phật thường phóng quang minh, nhưng mười người chỉ năm sáu người được trông thấy. Có kẻ nằm mộng thấy Đạo Như hiện thân sắc vàng vào nơi địa ngục, hoặc vào chỗ ngạ quỷ, súc sinh mà thuyết pháp. Những sự cảm ứng như thế rất nhiều.

“Hữu thành hữu cảm” âu là một việc tất nhiên.

(Trích lục: Tinh Châu Ký)
***************************

SỰ CẢM ỨNG KHI TẠO TƯỢNG ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

Cha của ông Lý Triệu Đải, người huyện Du ở Ung Châu, nhân hủy báng Phật pháp, mộng thấy thần quở trách, mang bệnh thổ huyết rồi chết. Triệu Đài kính thành quy y Đại Thế Chí, niệm danh hiệu Phật, Bồ tát cầu nguyện cho cha. Ông lại thuê thợ giỏi tạo kim thân đức Đại Thế Chí cao ba thước để cúng dường. Ngày khởi công, đất khắp nơi bỗng rung chuyển, nhiều người cho là cơn địa chấn, luận bàn tốt xấu phân vân. Hai tháng sau tượng thành, Triệu Đải mộng thấy một vị kim thân, đầu đội bảo quan, đến nói:

– Ta là Đại Thế Chí Bồ tát. Ngươi có biết nguyên do cơn động đất hôm trước chăng? Đó là do ngươi phát nguyện tạo tượng, ta đến đây để chứng minh, khi đặt chân xuống thế giới này, cõi đại thiên rung động, chúng sinh trong đó đều được thoát khổ. Ta y theo môn niệm Phật chứng vào Vô sinh nhẫn, nhiếp thủ chúng sinh niệm Phật ở mười phương. Ngươi tạo tượng ta lại niệm Phật, nên ta đã cứu cha ngươi thoát khỏi địa ngục, đưa về Tịnh độ.

Lý Triệu Đải nghe nói, chắp tay chiêm ngưỡng Bồ tát, vừa muốn cúi xuống đảnh lễ, bỗng giật mình thức giấc. Ông vừa vui mừng vừa cảm động, từ đó chuyên niệm Phật không biếng trễ.

(Trích lục: Tư Mạng Chi)

***********************************

HỦY TƯỢNG PHẬT QUẢ BÁO TỨC KHẮC
< Trích An Sĩ tòan thư >

Triều Thanh, vào năm đầu tiên niên hiệu Khang Hy ( năm 1662) gỗ đàn hương rất có giá. Quận Tô có một hiệu buôn gỗ hương, bỏ ra 3 lượng bạc mua về một pho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm bằng gỗ hương.
Sau đó suy nghĩ tính toán rằng, nếu phá pho tượng này ra để bán gỗ vụn thì có thể được 16 lượng. Liền chuẩn bị chẻ tượng ra.
Có một người thợ làm công sợ làm như vậy mang tội nên hết sức can ngăn, nhưng đứa con rể của ông chủ hiệu buôn lúc đó đến đón vợ, đang ở tại nhà cha vợ, liền chỉ mặt người làm công mà nói: “Mày chỉ là người làm công, đâu phải việc của mày. Cứ nghe lời mà làm đi.”
Đêm hôm đó, người con gái của chủ hiệu buôn bỗng đau bụng không thể về nhà, phải ở lại ba hôm để trị bệnh.
Qua hôm sau, trên đường phố có một đứa bé khoảng sáu tuổi đang đi theo cha, bỗng chỉ tay về phía hiệu buôn gỗ hương, hỏi cha:
“Cha ơi, sao trên nóc nhà kia lại có niêm phong màu đỏ phong kín thế?” Người cha cho rằng đứa bé nói bậy nên cấm không cho nói nữa.
Đêm ấy, hiệu buôn gỗ hương bỗng tự nhiên phát hỏa, lửa thiêu duy nhất một nhà ấy thôi, cả nhà không ai sống sót. Đứa con rể của chủ hiệu định nhảy ra từ một lỗ thoát trên tầng lầu, nhưng bỗng thấy như có vật gì ngăn giữ lại, cuối cùng phải chịu chết trong lửa.
Riêng người thợ làm công, ngay buổi sáng sớm hôm trước chưa xảy ra hỏa hoạn, bỗng có một hiệu buôn trầm hương khác đến khẩn thiết mời sang giúp họ hai hôm, nhờ thế mà thoát khỏi nạn này.
Lời bàn
Hủy hoại tượng Phật, làm thân Phật chảy máu, là một trong 5 tội nghịch phải đọa vào địa ngục vô gián. Vì thế, nếu thấy việc như vậy mà không khuyên can ngăn cản, ắt sẽ gặp nạn dữ vào thân, còn nếu khởi dù một chút tâm lành, liền được thiện thần bảo vệ. Chỉ do tâm niệm của đứa con rể ông chủ hiệu buôn gỗ hương và người thợ làm công kia hoàn toàn khác nhau, nên một người vốn đang muốn rời khỏi hiệu buôn ấy để về nhà, nhưng lại khiến cho không về được; một người vốn không có ý muốn rời khỏi hiệu buôn ấy, nhưng lại khiến cho phải rời đi để tránh tai họa. Quả thật là: “Họa với phúc vốn không định sẵn, chỉ do người tự chuốc lấy mà thôi.”

HỦY TƯỢNG PHẬT CHẾT THÊ THẢM

Vào những năm Chính Hòa thời Bắc Tống (1111-1118 ), Hoàng đế bấy giờ là Tống Huy Tông nâng đỡ Đạo giáo, chèn ép Phật giáo, bởi vậy Phổ Chiếu Tự, một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng trong thành Tứ Châu bị người ta chiếm cứ. Phổ Chiếu Tự có một bức tượng Phật rất lớn, không chỉ hoa lệ hùng vĩ mà còn cực kỳ trang nghiêm tôn quý. Những kẻ chiếm cứ muốn hủy bức tượng Phật, nhưng lại sợ sự uy nghiêm của Thần Phật, nên họ tuyển mộ giá cao kẻ cả gan dám hủy bức tượng tôn Phật này.
Khi ấy một kẻ vô lại họ Triệu thèm muốn tiền thưởng nên đã tới nhận nhiệm vụ này. Hắn ta lại kiếm thêm mấy người cùng hắn cầm búa tới Phổ Chiếu Tự. Kẻ vô lại dẫn đầu đám người cầm búa tới đập bức tượng Phật, cuối cùng tượng Phật bị phá hoại hoàn toàn, đúng là, “huy hoàng trăm thước, bể nát một giờ”. Quần chúng đứng xem than thở không thôi, có người còn rơi nước mắt. Chưa đầy mười ngày sau, hai tay của kẻ vô lại họ Triệu bắt đầu thối rữa, không thuốc trị được, hơn nữa phạm vi càng ngày càng lớn, dần dần lan lên cánh tay, bả vai cho tới toàn thân trên dưới, khắp mình lở loét, đau đớn như nghìn vạn thanh đao cứa vào. Kêu khóc cả ngày, từ lúc bắt đầu thối rữa cho tới tận khi chết, khổ sở đủ một trăm ngày, người xem đều thấy rùng mình kinh hãi.
Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo. Trong lịch sử tuy không ghi lại kết cục nhũng người cùng tham gia hủy hoại tượng Phật, nhưng có lẽ họ cũng khó thoát khỏi ác báo như kẻ vô lại kia. Ngay cả Hoàng đế Tống Huy Tông vốn hạ lệnh đè nén Phật giáo cuối cùng cũng bị nước Kim bắt làm tù binh, chịu đủ nỗi khuất nhục, chết trong thê thảm. Có thể thấy ác hữu ác báo, dẫu kẻ ác có địa vị cao đến đâu, cũng tất phải trả giá cho hành vi ác của mình.
Nguon: Quang Tu

Related Articles

Responses