Chúng ta đã lọt một chân vào hố sâu… khủng hoảng

Tiền trong túi của tất cả chúng ta đang bốc hơi hàng ngày vì khủng hoảng năng lượng cận kề và lạm phát đã hiện hữu mạnh mẽ. (Ảnh: NTDVN tổng hợp)

Lạm phát bùng phát cao khắp thế giới và nó không phải là hiện tượng tạm thời chỉ bởi vì chuỗi cung ứng đứt gãy. Cuộc khủng hoảng năng lượng trầm trọng hơn khi các nền kinh tế dành nguồn năng lượng lớn để sản xuất vũ trang, các chính trị gia quên đi cái lạnh, cái đói của hàng tỉ người dân khắp toàn cầu để sống chết với ‘biến đổi khí hậu’ cũng như biến năng lượng thành quân bài mặc cả ngoại giao, chính trị. Thiếu thốn năng lượng, than đá và khí tự nhiên đồng thời tạo ra khủng hoảng phân bón và hậu quả của nó sẽ là nạn đói… Thế giới chắc chắn đã bị lọt, ít nhất là một chân, vào hố sâu khủng hoảng này.

Trước khi COVID-19 trở thành một cái tên quen thuộc, các bộ phim Hollywood đã có ý tưởng về một loại virus có thể gây ra tác hại nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu. Công chúng, bao gồm cả các giám đốc điều hành doanh nghiệp trên toàn cầu, chưa bao giờ tưởng tượng được mức độ gián đoạn chuỗi cung ứng mà chúng ta thấy ngày nay.

Giờ đây, khi thế giới cố gắng thoát ra khỏi đám mây đen của Covid, đánh giá thiệt hại và tiến lên phía trước, thật khó để không nhận thấy thiệt hại mà đại dịch gây ra cho chuỗi cung ứng. Và thêm vào cuộc khủng hoảng đó, chúng ta đang bắt đầu trải nghiệm lạm phát gia tăng.

Những tác động rộng lớn hơn của tình trạng này ngày càng trở nên rõ ràng và có thể tồi tệ hơn dự kiến. Ngày nay, sự gián đoạn chuỗi cung ứng vẫn là một vấn đề nghiêm trọng. Cho đến nay, giải pháp sai lầm trong chống dịch đã khiến các chính phủ chẳng có cách nào tháo gỡ cho tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu. 

Giá lương thực có thể gieo mầm cho cuộc khủng hoảng tiếp theo

Theo Nomura Holdings Inc., giá năng lượng tăng cao đã đẩy lạm phát ở các nền kinh tế lớn lên mức cao nhất trong nhiều thập kỷ và khiến các ngân hàng trung ương mất cảnh giác, nguồn áp lực tiếp theo có thể đến từ giá thực phẩm.

“Thực phẩm có tỷ trọng trong rổ tính toán CPI lớn hơn nhiều so với năng lượng; đặc biệt là ở các nền kinh tế thị trường mới nổi”, các nhà phân tích của Nomura do Rob Subbaraman dẫn đầu cho biết trong một báo cáo nghiên cứu. Họ nói: “Hạt giống của cuộc khủng hoảng tiếp theo có thể đã được gieo vào trong giá lương thực”, đồng thời cho biết thêm rằng giá năng lượng tăng cao có khả năng gây ảnh hưởng kép mạnh mẽ đến lương thực.

Chi phí năng lượng gia tăng, sự tắc nghẽn của chuỗi cung ứng và nhu cầu sau khi bị phong tỏa đã kết hợp với nhau để thúc đẩy lạm phát toàn cầu tăng nhanh hơn. Giá tiêu dùng của Mỹ tháng trước đã tăng với tốc độ hàng năm nhanh nhất kể từ năm 1990 và lạm phát của Trung Quốc ở mức cao nhất trong 26 năm.

Ngay cả trước cuộc khủng hoảng Covid, đã có những yếu tố cung – cầu cơ bản dẫn đến sự gia tăng giá thực phẩm, Nomura nói, đồng thời cho biết thêm rằng những động lực đó đã được đại dịch và sự gia tăng chi phí năng lượng khuếch đại lên.

Giá lương thực toàn cầu hiện đang tăng cao nhất kể từ năm 2011

Theo Megan Durisin của Bloomberg : “Việc giá thực phẩm toàn cầu tăng vọt lên mức cao trong một thập kỷ có nguy cơ dẫn đến hóa đơn hàng tạp hóa sẽ còn đắt đỏ hơn, và cuộc khủng hoảng năng lượng đang đe dọa khiến mọi thứ thậm chí còn tồi tệ hơn”. 

“Thu hoạch bị mất mùa, nhu cầu nhiều hơn và sự gián đoạn chuỗi cung ứng đã khiến chỉ số chi phí thực phẩm của Liên hợp quốc tăng 1/3 trong năm qua. Lần tăng mới nhất vào tháng 9 là do giá hầu hết các loại thực phẩm đều tăng, làm tăng thêm cơn đau đầu về lạm phát cho người tiêu dùng và các ngân hàng trung ương”.

“Hóa đơn năng lượng tăng cao hiện đang gây thêm vấn đề, làm leo thang chi phí sản xuất phân bón và vận chuyển hàng hóa trên khắp thế giới, đồng thời đợt tăng giá này làm cho gợi nhớ đến những đợt tăng giá đột biến trong các cuộc khủng hoảng lương thực năm 2008 và 2011. Sự tăng giá năng lượng cũng có thể khiến nhiều loại cây trồng được chuyển hướng từ lương thực sang sản xuất nhiên liệu sinh học, Liên Hợp Quốc cảnh báo”.

Trong một cái nhìn hẹp hơn về các vấn đề cung và cầu lúa mì toàn cầu, AMIS Market Monitor cho biết: “ Điều kiện thời tiết xấu ảnh hưởng nặng nề đến cây lúa mì trong mùa này ở một số quốc gia sản xuất chủ chốt, chẳng hạn như Canada (thấp hơn 38% so với sản lượng của mùa trước), Liên bang Nga (giảm 13%); và Hoa Kỳ (giảm 7%). Do đó, không có gì ngạc nhiên khi tồn kho lúa mì toàn cầu có thể giảm xuống dưới mức mở cửa trong mùa thị trường 2021-2022. Do các vụ sụt giảm hầu hết tập trung ở các nước xuất khẩu lớn, tỷ lệ dự trữ lúa mì có thể giảm xuống mức thấp nhất trong hơn hai thập kỷ, đây là một dấu hiệu đáng lo ngại về tình trạng thắt chặt nguồn cung trên thị trường thế giới, làm tăng thêm nữa khả năng tăng giá lúa mì trong mùa này”.

Hàng trăm người đã xuống đường biểu tình tại một số địa điểm ở Cuba hôm Chủ nhật 11/7 để yêu cầu chấm dứt chế độ độc tài khi hòn đảo này phải vật lộn với tình trạng thiếu lương thực và số ca nhiễm COVID-19 tăng đột biến. (Ảnh: Facebook)

Bà Jesse Newman của Wall Street Journal chỉ ra rằng : “Các công ty thực phẩm khác đang phải đối mặt với những vấn đề chuỗi cung ứng gia tăng. PepsiCo Inc. cho biết rằng họ phải đối mặt với chi phí cao hơn đối với lon nhôm, chai nhựa, nhân công và vận tải đường bộ, mặc dù công ty đã đẩy mạnh kỳ vọng lợi nhuận trong năm nhờ tăng doanh thu của Mountain Dew, Doritos và các đồ ăn nhẹ khác. General Mills Inc. vào tháng trước cho biết công ty mẹ của Cheerios và Betty Crocker đang đối mặt với hàng trăm sự cố gián đoạn hoạt động — chẳng hạn như nguyên liệu đắt hơn và tình trạng thiếu tài xế xe tải — đang đẩy chi phí cho khách hàng ở siêu thị tăng lên”.

Các vấn đề về chuỗi cung ứng đang ngày càng gia tăng đối với các nhà sản xuất thực phẩm Hoa Kỳ vào thời điểm người tiêu dùng đang chi tiêu rất nhiều cho thực phẩm trong các siêu thị và nhà hàng. 

Chi tiêu của người tiêu dùng tại các cửa hàng tạp hóa trong tháng 8 cao hơn 4% so với cùng tháng một năm trước đó, theo dữ liệu của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ. Doanh số bán hàng của nhà hàng đã tăng trong năm nay khi các hạn chế của Covid-19 giảm bớt, mặc dù những lo ngại về biến thể Delta đã làm xói mòn phần nào sự phục hồi trong những tuần gần đây.

Giá khí đốt ở châu Âu và châu Á đang ở mức cao nhất mọi thời đại

Giá dầu ở mức cao nhất trong ba năm và giá than tăng cao do tình trạng thiếu năng lượng ở Trung Quốc, Ấn Độ và Đức. Thế giới đang bước vào một cuộc khủng hoảng năng lượng mới chưa từng thấy kể từ những năm 1970.

Sự tăng cầu chủ yếu được thúc đẩy bởi các nền kinh tế đang phục hồi và dự đoán thời tiết khắc nghiệt trên khắp Châu Âu và Đông Bắc Á. Trung Quốc đang tích trữ than và khí đốt trong nước, còn Nga thì miễn cưỡng cung cấp khí đốt cho Tây Âu. Gần hơn, giá khí đốt của Úc đang tăng vọt, nhưng có thể sẽ sớm giảm mạnh.

Những người đàn ông Trung Quốc kéo xe ba bánh trong khu phố bên cạnh một nhà máy nhiệt điện bốc khói nghi ngút tại Sơn Tây, Trung Quốc, vào ngày 26/11/2015. (Kevin Frayer / Getty Images) Những người đàn ông Trung Quốc kéo xe ba bánh trong khu phố bên cạnh một nhà máy nhiệt điện bốc khói nghi ngút tại Sơn Tây, Trung Quốc, vào ngày 26/11/2015. (Kevin Frayer / Getty Images)

Giá dầu đã tăng vọt để đáp ứng mùa hè không có gió và những khó khăn của Anh và Đức khi tiếp cận khí đốt của Nga. Những mức tăng này sẽ sớm tác động đến Australia, quốc gia nhập khẩu 80% xăng, dầu diesel và nhiên liệu máy bay.

Sự suy thoái của thị trường khí đốt đang buộc các nước chuyển sang sử dụng than để sản xuất điện và cho ngành công nghiệp. Giá than nhiệt ở châu Á tiếp tục đạt mức cao kỷ lục.  

Ở châu Á, không có đủ than để đáp ứng nhu cầu dự kiến. Một mùa đông lạnh giá, sau đó là một mùa hè nóng nực và tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn đã dẫn đến nhu cầu của người Trung Quốc lớn hơn. Nó là nguyên nhân chính dẫn đến một cuộc khủng hoảng điện đang nổi lên ở Trung Quốc.

Nga có đang đổ thêm dầu vào lửa cho cuộc khủng hoảng năng lượng không? 

Châu Âu đang trải qua bất ổn về năng lượng, với giá khí đốt tự nhiên giao ngay trong tháng qua đã tăng gấp 5 lần so với một năm trước. Một số nhà phân tích coi Nga là nhân vật phản diện trong cuộc khủng hoảng mới này.

Trong cuộc tranh chấp về giá năm 2009 với Ukraine, tập đoàn khí đốt khổng lồ Gazprom của Nga đã cắt tất cả nguồn cung cấp cho châu Âu, tấn công các nước đông nam và các khu vực khác của EU. Sau cuộc khủng hoảng năm 2014 về việc sáp nhập Crimea, Nga một lần nữa tắt vòi khi cáo buộc Ukraine không trả được nợ cho Gazprom.

“Nga có một lịch sử trong việc sử dụng nguồn cung cấp năng lượng và giá cả như một phương tiện để mua bạn và gây chia rẽ và thống trị với từng khách hàng EU”, giáo sư Andreas Goldthau, chủ tịch Franz Haniel về Chính sách Công tại Đại học Erfurt giải thích.

Nga có đang châm ngòi cho cuộc khủng hoảng không?

Có và không. Do có quá nhiều yếu tố toàn cầu, khu vực và địa phương góp phần làm cho thị trường bị thắt chặt : sản lượng khí đốt ở chính châu Âu giảm, nhu cầu năng lượng của châu Á tăng trưởng mạnh, nguồn dự trữ khí đốt cạn kiệt trong mùa đông 2020–2021 và các nguồn tái tạo như gió và thủy điện có sản lượng thấp hơn, vì vậy, khó có thể bị đổ lỗi cho chỉ riêng Matxcơva về giá cao và tình trạng khan hiếm năng lượng. Nhiều chuyên gia chỉ ra rằng bản thân Nga đã phải vật lộn để tăng sản lượng (và duy trì mức lưu trữ của chính mình). Tổng thống Vladimir Putin đã gọi những tuyên bố rằng đất nước của ông đang vũ khí hóa năng lượng là “động cơ chính trị sai trái”.

Tuy nhiên, tình trạng hỗn loạn tái khẳng định sự sẵn sàng của Nga trong việc khai thác các lỗ hổng của khách hàng – như đã thấy trong các tranh chấp trước đây với Ukraine và Estonia. Gazprom, nhà sản xuất khí đốt tự nhiên lớn nhất của Nga, cho đến nay đã từ chối tăng giao hàng tới châu Âu ngoài những hợp đồng dài hạn được đề cập. Đồng thời, các nhà lãnh đạo Nga đã không ngần ngại buộc xuất khẩu cao hơn để phê duyệt nhanh chóng đường ống Nord Stream 2, hiện hầu như đã hoàn thành nhưng đang chờ đèn xanh quy định để bắt đầu bơm khí. Đi xa hơn nữa, Gazprom đã nói với Moldova rằng giá vận chuyển khí đốt trong tương lai sẽ phụ thuộc vào việc liệu nhà nước Xô Viết cũ có bỏ qua một hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu (EU) hay không. 

Trong khi căng thẳng năng lượng, chính trị gia của chủ nghĩa toàn cầu còn mong đợi các ngành năng lượng bị phá sản

Mặc dù thế giới đang khan hiếm năng lượng, chính quyền Biden lại đặt trọng tâm vào việc chống biến đổi khí hậu kể từ khi tổng thống nhậm chức và ngay lập tức tạm dừng xây dựng đường ống Keystone XL. Thông qua Đạo luật Xây dựng trở lại Tốt hơn trị giá 1,7 nghìn tỷ USD của mình, tổng thống đặt mục tiêu giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ của Mỹ và lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Gần đây nhất, Tổng thống đương nhiệm Mỹ cũng đang xem xét đóng cửa thêm một đường ống dẫn dầu ở Michigan trong bối cảnh Mỹ đang chìm sâu trong khủng hoảng tăng giá nhiên liệu và mùa đông đang đe doạ an sinh của nhiều người nếu thiếu năng lượng. 

Người được Tổng thống Biden đề cử để lãnh đạo một chi nhánh của Bộ Ngân khố, Saule Omarova, sinh ở Liên Xô, cho biết trong một video được phát lại gần đây rằng bà ủng hộ ý tưởng về các ngành năng lượng sẽ “phá sản”; đó như một cách mà các chính trị gia của ‘chủ nghĩa toàn cầu’ tin rằng nhờ vậy mà khí hậu sẽ không biến đổi(!?).  

Trong một đoạn video được đăng tải bởi tổ chức American Accountability Foundation (AFF), ứng cử viên Bộ Tài chính Mỹ Saule Omarova thừa nhận rằng bà muốn các ngành nhiên liệu truyền thống của Mỹ phá sản để phục vụ cho chủ nghĩa chống biến đổi khí hậu. (Ảnh chụp màn hình đoạn video trên Twitter của AFF)

Nêu tên các ngành công nghiệp than, dầu và khí đốt một cách cụ thể, Omarova cho biết “rất nhiều người chơi nhỏ” trong các ngành đó “có thể sẽ phá sản trong thời gian ngắn” khi nói thêm: “Ít nhất chúng tôi muốn họ phá sản nếu chúng ta muốn giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, phải không?”

Omarova đã đưa ra lời kêu gọi này để các công ty dầu và khí đốt tự nhiên phá sản vì chính trị gia muốn giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, nhưng đó là ngành đang phát triển các công nghệ để sản xuất năng lượng sạch hơn. Có vẻ như Omarova và rất nhiều chính trị gia cực tả chống biến đổi khí hậu không quan tâm tới cái đói, cái lạnh và cái nghèo đang sầm sập kéo đến, đe doạ an sinh và cả mạng sống của hơn 4 tỷ người dân (ít nhất) trên khắp toàn cầu. Thứ họ muốn là ‘chống biến đổi khí hậu’, còn hậu quả nhãn tiền của việc đó với dân sinh thì họ không mấy quan tâm. 

Như Energy In Depth đã lưu ý trong Ngày Trái đất năm nay, Hoa Kỳ là nước dẫn đầu thế giới về việc giảm lượng khí thải carbon nhờ khí tự nhiên.  

Ngành công nghiệp này cũng đang đi tiên phong trong những cách thức mới để sản xuất năng lượng hiệu quả hơn và giảm lượng khí thải bao gồm xác định và sửa chữa rò rỉ khí mê-tan, phát triển công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon, đồng thời tài trợ hàng tỷ đô-la cho nghiên cứu phát triển.

Nếu Omarova (và bất kỳ ai khác) thực sự quan tâm đến việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, họ sẽ thấy một đồng minh trong ngành khai thác năng lượng này, chứ không phải là phá huỷ nó. 

Sai lầm của việc kêu gọi phá sản ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch 

Không chỉ phá sản ngành công nghiệp dầu khí tự nhiên sẽ làm tổn hại đến nỗ lực giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu mà còn có thể gây thiệt hại cho người lao động và cộng đồng trên khắp nước Mỹ.

Theo một nghiên cứu từ Viện Năng lượng Toàn cầu của Phòng Thương mại Hoa Kỳ về ảnh hưởng của lệnh cấm kỹ thuật thủy lực cắt phá (tức là làm ngành công nghiệp này phá sản):  

“Phân tích cho thấy lệnh cấm kỹ thuật thủy lực cắt phá sẽ loại bỏ 19 triệu việc làm trong giai đoạn 2021-2025, đồng thời làm giảm Tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ khoảng 7,1 nghìn tỷ USD so với cùng kỳ. Giá năng lượng sẽ tăng vọt, với giá khí đốt tự nhiên tăng 324%, khiến hóa đơn năng lượng hộ gia đình tăng gấp 4 lần và chi phí sinh hoạt tăng 5.661 USD đối với người Mỹ trung bình. Đến năm 2025, giá xăng sẽ tăng gấp đôi và doanh thu của chính phủ sẽ giảm mạnh gần 1,9 nghìn tỷ USD”.

The Center Square, đưa tin về nhận xét của Omarova, cho biết : 

“Năm 2019, ngành công nghiệp này tạo ra 892,7 tỷ USD thu nhập từ lao động, tương đương 6,8% thu nhập lao động quốc gia của Hoa Kỳ. Nó cũng hỗ trợ gần 1,7 nghìn tỷ USD cho tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ, chiếm 7,9% tổng sản phẩm quốc gia”.

Sự phá sản của ngành này cũng sẽ làm giảm nguồn thu thuế mà các cộng đồng địa phương phụ thuộc vào. The Center Square cho biết hoạt động sản xuất đóng góp 155 triệu USD cho ngân sách tiểu bang Louisiana và 2,8 tỷ USD cho ngân sách tiểu bang New Mexico, và ở Texas, ngành công nghiệp này đã phải trả 13,9 USD thuế và tiền bản quyền của tiểu bang và địa phương.

Việc ngừng sử dụng nhiên liệu hóa thạch ảnh hưởng đến sản xuất phân bón

Sự khan hiếm thực phẩm là một vũ khí được thiết kế để đạt được tình trạng giảm dân số trên toàn cầu bằng cách tạo ra nạn đói, đói kém và bất ổn xã hội.

Cách nhanh nhất để tạo ra nạn đói toàn cầu là cắt nguồn cung cấp phân bón. Không có phân bón tương đương với không có thức ăn.

Và cách nhanh nhất để ngừng sản xuất phân bón là cắt bỏ nhiên liệu hóa thạch. 

Thật vậy, khí tự nhiên và các nhiên liệu hóa thạch khác được chuyển trực tiếp thành phân bón (ban đầu là amoniac) thông qua một phương pháp rất hiệu quả mà năng lượng “xanh” không thể so sánh được. Nó được gọi là “quá trình Haber”:

N2 (Nitơ) + 3H2 (Hydro) = 2NH3 (Amoniac)

N2 (nitơ) sinh ra từ không khí. Khí quyển có khoảng 78% nitơ, vì vậy nitơ luôn có sẵn trong không khí. Là một phần của sản xuất phân bón, amoniac này sau đó được kết hợp với carbon dioxide để tạo ra Urê, một sản phẩm phân bón quan trọng khác.

Trên thực tế, điều này biến không khí thành phân bón bằng cách kết hợp nó với hydro từ nhiên liệu hóa thạch (tức là khí tự nhiên). Phản ứng này diễn ra ở nhiệt độ 450C và ở áp suất 200 atm, có nghĩa là nó đòi hỏi thiết bị hạng nặng và đầu vào năng lượng để thành công.

Khoảng 3,8 tỷ người phụ thuộc vào quá trình này để tự kiếm ăn. Nếu không có quá trình này, dân số ngày nay sẽ không thể duy trì. Do đó, chỉ cần yêu cầu hạn chế các nhiên liệu hóa thạch cung cấp hydrocacbon được sử dụng trong quá trình Haber thì khoảng một nửa dân số thế giới sẽ bị giết chết.

Đầu vào của ngành sản xuất phân bón (Nguồn: Báo cáo ngành sản xuất phân bón, FPT, 2019)

Lưu ý rằng các yếu tố đầu vào quan trọng trong sản xuất phân bón là khí tự nhiên và không khí trong khí quyển. Bạn không thể đơn giản thay thế khí tự nhiên (CH4) bằng các tấm pin mặt trời hoặc năng lượng gió, bởi vì năng lượng mặt trời không tạo ra CH4 và năng lượng gió cũng vậy. Bạn thực sự cần nhiên liệu hóa thạch như một nguyên liệu đầu vào quan trọng trong quá trình hóa học này.

Điều quan trọng là, khi than, dầu và các nhiên liệu hóa thạch khác bị ép bởi những người theo chủ nghĩa toàn cầu thiếu hiểu biết về khoa học, những người tuyên bố đang hướng tới một tương lai “xanh”, nó gây ra tình trạng thiếu hụt và lạm phát giá trên tất cả các loại nhiên liệu hóa thạch, bao gồm cả khí tự nhiên được sử dụng trong sản xuất phân bón.

Trên thực tế, tình trạng thiếu năng lượng hiện tại đã hoành hành khắp hành tinh khi chúng ta bước vào mùa đông ở Bắc bán cầu – với việc mất điện hiện đã được dự đoán trên khắp Bắc Mỹ, Ukraine, Tây Âu, Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia Trung Đông – hoàn toàn là kết quả của những người theo chủ nghĩa toàn cầu tự sát. “Các nhà lãnh đạo” đóng cửa cơ sở hạ tầng nhiên liệu hóa thạch dưới danh nghĩa năng lượng “xanh”.

Mặc dù năng lượng xanh chắc chắn có thể đóng góp vào lưới điện khi tiêu thụ điện thô, nhưng nó không thể thay thế quy trình Haber để sản xuất phân bón.

Do đó, khi cơ sở hạ tầng cho nhiên liệu hóa thạch bị đóng cửa, việc sản xuất phân bón sẽ ngừng lại.

Việc sản xuất phân bón cũng đã bị ngừng hoạt động ở Úc, Hoa Kỳ, Anh và nhiều quốc gia khác trên thế giới, tất cả đều do giá khí đốt tự nhiên tăng, xuất phát từ sự khan hiếm năng lượng do các chính sách “năng lượng xanh” theo chủ nghĩa toàn cầu.

Giá phân bón cao cũng làm tăng chi phí cho nông dân, những người đang phải trả nhiều tiền hơn cho mọi thứ từ đất đai, hạt giống cho đến thiết bị. Chi phí sản xuất cao hơn có thể đồng nghĩa với việc lạm phát lương thực thậm chí đang gia tăng.

Thảm họa khan hiếm thực phẩm lớn vào năm 2022 đã được “định sẵn”

Do việc ngừng sản xuất phân bón vào năm 2021, sản lượng cây trồng mất mùa nghiêm trọng vào năm 2022 đã được định dạng. Điều này không thể dừng lại. Chúng ta sẽ chứng kiến ​​tình trạng khan hiếm thực phẩm tăng nhanh vào năm 2022 vượt xa tình trạng hiện tại với các kệ hàng trống và lạm phát thực phẩm.

Các cuộc bạo động lương thực toàn cầu vào năm 2022 dự đoán sẽ diễn ra cùng với việc gia tăng tình trạng mất an ninh lương thực (thiếu ăn) và nạn đói ở một số quốc gia.

Sự thắt chặt chuỗi cung ứng vận chuyển toàn cầu được lập trình sẽ chỉ làm trầm trọng thêm sự việc này, dẫn đến việc phân bón bị giao hàng chậm trễ kéo dài, ngay cả khi có thể đạt được sản lượng.

Sự cố lưới điện sẽ tác động mạnh đến các nhà máy sản xuất phân bón, vì lưới điện địa phương đang hoạt động là hoàn toàn cần thiết để việc sản xuất phân bón được tiến hành.

Các chỉ thị về về vaccine sẽ đóng góp vào sự sụp đổ này khi các chính phủ tội lỗi phong tỏa người lao động và ngăn cản lực lượng lao động hoạt động hết công suất.

Kết quả cuối cùng là bạo loạn lương thực toàn cầu, nạn đói, nạn đói, bất ổn xã hội và những mớ hỗn loạn.

Thuỷ Tiên

NGUỒN TIN THAM KHẢO

https://www.scmp.com/comment/opinion/article/3155495/behind-global-supply-chain-crisis-simple-case-hubris https://foodcollapse.com/2021-11-05-no-fertilizer-no-food-global-shutdown-of-fossil-fuels-the-quickest-way-to-starvation-hell-basic-chemistry-lesson-for-ignorant-leftists.html# https://www.supplychainbrain.com/blogs/1-think-tank/post/33843-surviving-supply-chain-disruption-and-rising-inflation https://www.cfr.org/in-brief/russia-using-energy-weapon-again https://www.independent.co.uk/news/world/gas-diplomacy-energy-crisis-b1936815.html https://www.foxnews.com/politics/treasury-saule-omarova-energy-industries-bankrupt https://www.energyindepth.org/biden-nominee-hopes-oil-and-natural-gas-industry-goes-bankrupt/?154 https://phys.org/news/2021-10-suddenly-middle-global-energy-crisis.html https://www.bloomberg.com/news/articles/2021-11-11/food-prices-may-sow-seeds-of-next-inflation-crisis-nomura-says https://www.bloomberg.com/news/storythreads/2021-10-29/global-supply-chain-collapse-latest-news https://farmpolicynews.illinois.edu/2021/10/global-food-prices-highest-since-2011-as-energy-costs-rise-and-supply-chain-challenges-persist/

Related Articles

Responses