CHÚ ĐẠI BI & “OM MA NI PAD MÊ HUM” CỨU MẮT MÙ LẠI SÁNG.

CHÚ ĐẠI BI & “OM MA NI PAD MÊ HUM” CỨU MẮT MÙ LẠI SÁNG.
(Chuyện linh ứng có thật của Ni Sư Thích Nữ Lệ Phát – Trụ trì chùa Châu An).

Tôi là ni sư Thích Nữ Lệ Phát trụ trì chùa Châu An số 498/1/2 Lê Quang Định, Phường 1, Quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
Xin kể ra đây một sự mầu nhiệm linh ứng có thật 100% về oai thần lực của chú Đại Bi và chú “OM MA NI PAD MÊ HUM”, để quý tu sĩ cùng Phật tử trong và ngoài nước khi đọc xong bài viết này sẽ phát tâm trì niệm thần chú để cùng cộng hưởng phước báu của chư Phật.

Tôi xin nói sơ về nguyên nhân nào mà tôi trì chú. Vị đạo sư truyền dạy là ai? Vị đó đạo hạnh như thế nào? Vì muốn học một pháp môn nào, phải chọn vị thầy dạy có tài, có đức, đạo hạnh song toàn, để mình gởi phần linh hồn đúng không quý vị?

“Vào năm 1992, Chân An Tự chúng tôi tiếp một vị tu sĩ từ hải ngoại về. Thầy đến để tặng quà cho một số tăng ni trẻ nghèo hiếu học (gần 30 vị).
Chiếc Honda chở thầy dừng lại. Tôi hồi hộp nhìn xem vị tu sĩ như thế nào? (Lúc đó có rất ít tu sĩ hải ngoại về nước). Một vị ngoại quốc ốm cao, dáng thanh thoát, đầu đội nón tai bèo, chân mang dép da, áo tràng nâu đã bạc mầu sương gió. Thầy là người Pháp sinh tại Việt Nam. Một sự kinh ngạc vô cùng! Nhìn thầy không khác quý cha dòng FRANCISCO khổ hạnh từng ở tại Việt Nam giúp đỡ dân nghèo rất nhiều. Niềm tôn kính xâm chiếm tâm hồn tôi.

Đại đa số quý thầy cô ở nước ngoài về ăn mặc sang trọng không khổ chê, còn vị nầy sao khổ hạnh thế? Thầy trang nghiêm ngồi vào ghế. Sau lời giới thiệu và nói ý định giúp đỡ chư tăng ni đang thiếu thốn để đặng đi học. Thầy đứng lên phát biểu. Lời nói thầy sao mà êm dịu, nhã nhặn, nhắc nhở chư tăng ni trẻ, ráng giữ đạo hạnh tu học, chớ buông giải đãi. Ở nước ngoài tu cực lắm, chớ phải sung sướng gì đâu… Thầy cầm từng phong thư (Một Trăm Ngàn Đồng) trao từng vị.

Thấy hạnh của Thầy khiêm hạ như thế! Sau cuộc họp mặt thân mật, Thầy ra về. Hình bóng vị tu sĩ khổ hạnh nầy làm tôi suy nghĩ mãi. Làm sau hầu chuyện với Thầy một lần để tìm hiểu hạnh tu của vị nầy? Công việc thầy quá bận rộn, không có thời giờ rảnh, biết chừng nào ghé lại đây? Tôi thầm van vái Phật cho con đặng hầu chuyện với vị nầy.

Tự nhiên tuần sau Thầy ghé chùa Từ Quang ban đêm để thăm thầy Nhật Thiện. Thầy muốn ở lại nhưng bên đó khó khăn về chỗ ở, thế là thầy sang Châu An xin ở lại một đêm. Trong khi đại chúng dọn phòng cho thầy, tôi mời thầy ngồi để tìm hiểu về thầy.
Tôi hỏi:
– Bạch Thầy! ở Việt Nam rất khổ, mục đích vượt biên qua Tây Phương để tìm cuộc sống thoải mái cho mình và giúp đỡ người thân. Trái lại nguyên nhân nào Thầy xuất gia vào đạo một cách đại hùng đại lực vậy?

Lúc đó Thầy mới tâm sự một cách chân thật về một quãng đời ấu thơ cho đến khi vượt biên đến xứ người và cuối cùng xuất gia vào đạo.
Thầy nói:
– Tôi nhập thất ba năm, ba tháng, ba ngày, ba giờ ở tu viện Phật giáo Tây Tạng bên Pháp. Mãn kỳ nhập thất tôi đi khắp nơi để thuyết giảng giáo lý mà tâm tôi lại chứng ngộ trong khoảng thời gian mật thất.
Tôi thưa:
– Về tình bạn, Thầy may mắn gặp các vị đạo sư chỉ dạy những gì trong mật thất? Mong Thầy thương những kẻ còn u ám mê mờ, xin Thầy dạy cho. Hoặc sau nầy có tài liệu nào hay về đạo xin thầy gởi cho, để chúng con tham khảo học với.
Thầy gật đầu và nói:
– Trong mật thất tôi đặng truyền dạy chú Đại Bi và chú OM MA NI PAD MÊ HUM bằng cả tâm lực, và luyện một số động tác Yoga để trợ sức khỏe.

Thầy chỉ dạy tôi cách bắt ấn “Tứ Đại Ngũ Châu” khi trì chú và các phương pháp đặc biệt để mở các Sara. Tôi ghi nhớ bên tai nhưng đầu óc không quan tâm lắm, có ý coi thường câu thần chú đó.

Thầy ở lại Việt Nam vài tháng. Cái hạnh của Thầy không bút mực nào tả hết. Càng gần Thầy mới thấy kính phục, một hạnh Bồ Tát thể hiện thật sự, chớ không phải đầu môi chót lưỡi. Thầy in mấy trăm triệu tiền kinh sách, dẫn đoàn đi khắp nơi để cúng dường. Những chùa xa xôi hẻo lánh cách lộ 1,2,3 cây số, mặt trời nắng chang chang hoặc mưa dầm dề, một mình Thầy tay xách nách mang đi đến đó để cúng dường kinh sách và tiền (khi ấy chúng tôi trong đoàn không ai chịu xuống đi với Thầy, vì nắng mưa, mệt). Một hai tiếng đồng hồ sau Thầy mới lội bộ ra, nhìn Thầy nét mặt hoan hỉ lạ thường. Thầy cười bảo:
– Kinh sách là giáo pháp Phật, phải ban truyền khắp nơi để bá tánh hưởng chung.

Đi đến bất cứ chùa nào nghèo, thiếu thốn gạo ăn, chùa nào thiếu nước uống, cần khoan giếng, nơi nọ cần hồ chứa nước, hoặc chùa bị dột nát, Thầy đều hỗ trợ đúng nhu cầu. Thầy đều nhiệt tâm giúp đỡ đồng bào nghèo khổ đói rách, có bao nhiêu tiền trong túi Thầy lấy ra cho hết, có khi năm bảy chục ngàn có lúc cả trăm ngàn. Khắp nơi nhờ Thầy thuyết pháp. Thầy giảng giáo pháp như tằm nhả tơ. Mọi người nghe xong đều giác ngộ, Thầy cho kinh sách xem đó mà gắng tu.

Tôi nghĩ:
“Vị sư nầy đã đi đúng hạnh từ, bi, hỷ, xả, đạo lực rất thâm hậu. Mình phải bắt chước tu thôi”.
Nói thế chớ công việc chùa bận rộn. Rồi Thầy trở về Pháp…

Còn hai tháng rưỡi nữa là đến Tết Quí Dậu (1993), đột nhiên mắt tôi bị đau. Tôi vội vàng đi khám phòng mạch tư Bác Sĩ Kính chuyên khoa về mắt ở dốc cầu Kiêu. Bác sĩ cho uống thuốc và nhỏ, nhưng mắt tôi càng ngày càng nặng thêm, nhức nhối lắm, một chút ánh sáng cũng không chịu nổi. Dù Bác Sĩ khám đi khám lại nhiều lần, thay đổi thuốc liên tục cũng không có khả quan. Cuối cùng Bác Sĩ bảo tôi bị nhiễm si vi trùng rất khó chữa. Việt Nam không có đủ phương tiện, phải đi nước ngoài mới có điều kiện chữa khỏi. Lời tuyên bố của Bác Sĩ làm tôi rụng rời tay chân muốn xỉu.

Tôi ra về với tâm trạng chán nản, đau khổ, tuyệt vọng. Hỡi ơi! Nghiệp báo gì mà nặng nề thế! Nỗi đau đớn này không có bút mực tả hết. Tôi đã khóc rất nhiều, thầm nghĩ tuổi trẻ có làm gì nên tội: 17 tuổi xanh, một nữ sinh Gia Long yêu kiều duyên dáng, đã cắt bỏ mái tóc xanh, trở thành Ni Cô trẻ tại chùa từ năm 1963 có tạo điều gì thất đức với ai đâu? Nghiệp chướng gì mà con trả nặng quá, Phật ơi cứu con!!!
Trong một thoáng kém suy nghĩ tôi định tìm cái chết, bèn bảo đệ tử mua cho được một vỉ thuốc ngủ, đệ tử thấy vậy cũng mua. Buổi sáng tôi cầm vỉ thuốc là đã có quyết định rồi… Thì buổi chiều tôi nhận được tài liệu của thầy Phật Đạo từ Pháp gởi qua. Đệ tử mở ra đọc cho tôi nghe. Đó là bài giảng về thần lực mầu nhiệm của chú Đại Bi và chú “OM MA NI PAD MÊ HUM” do đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng tại Pháp; dịch qua tiếng Việt ngữ do Phật tử Phạm Công Thiện.

Nghe xong tôi bừng tỉnh nghĩ rằng tại sao? Tại sao mình không trì chú? Nhờ oai thần của mật chú vàà Đức Quán Thế Âm cứu mình. Tôi quyết tâm trì chú, nương nhờ thần chú, cầu mong giải nghiệp.

Thế rồi tôi lần mò đi đốt ba cây hương trong bong tối của tịnh thất, đến bàn thờ tổ quỳ tha thiết cầu xin Đức Quán Thế Âm chứng minh con trì chú Đại Bi và chú “OM MA NI PAD MÊ HUM” để giải nghiệp báo thân bệnh hoạn của con. Sau lời nguyện tôi ngồi xếp bằng tay kiết ấn “Tứ Đại Ngũ Châu” mà thầy Phật Đạo chỉ dạy.

Lạ lùng thay, tôi vừa bắt ấn xong thì tay ấn tự nhiên run rẩy, rồi toàn thân tôi cũng rung lên. Tôi sợ quá! bộ mình phạm thượng điều chi đây nên có hiện tượng kỳ lạ nầy? Hôm trước Thầy cũng dạy, mình bắt ấn đâu thấy sao? Tôi liền giật tay ra cũng không thể ra được. Định tâm, suy nghĩ, hay là bắt ấn, Phật chứng cho mình rồi?

Năm phút sau, từ từ thân tôi không còn rung nữa. Tôi bắt đầu đem hết tâm trí ra trì 108 biến chú “OM MA NI PAD MÊ HUM” và 21 biến Đại Bi thần chú. Tiếp dó, tôi quỳ lạy Đức Quán Thế Âm xin thỉnh nước cúng Phật xuống, một ly tôi uống, một ly tôi lau lên mặt và nhỏ vô mắt. Sáng hôm sau, tôi mở mắt ra thì thấy mắt mình bớt nhức rất nhiều…

Bát đầu từ hôm đó, ngày tôi trì chú bốn thời: 8 giờ sáng, 2 giờ chiều, 7 giờ tối, 12 giờ đêm. Làm y như trên qua ngày thứ hai, khi bắt ấn tay tôi không còn thấy run nữa, mắt đã không còn nhức.

Ngày thứ ba, tôi thấy mắt mình vô cùng dễ chịu… Ngày thứ tư, mát tôi nhìn rõ được trong bóng tối. Ôi mầu nhiệm vô cùng! Tôi lại càng nhập tâm trì chú hơn.

Ngày thứ năm, mắt tôi bắt đầu tiếp nhận được ánh sáng ban ngày mà không còn thấy khó chịu như trước, ánh sáng lọt qua mắt dầu nhỏ cũng không thấy lóa mắt.

Qua ngày thứ sáu, tôi hé cửa nhìn được ra bầu trời, thấy đôi mắt dễ chịu hẳn…

Ngày thứ bảy, sau khi tôi trì chú xong, tôi mở cửa bước ra sân nhìn tất cả cảnh vật trong chùa. Ôi! Quá sung sướng! Nỗi vui mừng này không có ngôn từ nào để diễn tả. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát cứu mạng cứu bệnh con rồi!!! Oai thần lực của thần chú vô cùng mầu nhiệm linh ứng…

Quý Thầy, Sư Cô cùng Phật tử vào thăm ai cũng kinh ngạc trước sự hết bệnh của tôi một cách thần diệu. Đôi mắt tôi tìm lại được ánh sáng và vị ân nhân trợ giúp tôi là Thầy Phật Đạo. Dưới sự gia hộ của Đức Quán Âm mà thầy Phật Đạo đã gửi tài liệu cho tôi đúng thời điểm, đúng lúc khi tôi hoàn toàn tuyệt vọng.

Tôi mong rằng, sau này có cơ hội tôi có thể sang tận trời Âu để đảnh lễ tạ ơn Thầy, cùng chia sẻ niềm vui mừng khôn xiết của kẻ chết đi đặng sống lại. Trên đây là một câu chuyện mầu nhiệm linh ứng về thần chú Đại Bi và chú “OM MA NI PAD MÊ HUM”giải đặng nghiệp chướng… và TÔI ĐÃ HOÀN TOÀN KHỎI BỆNH”.
(Ni Sư Thích Nữ Lệ Phát)

Related Articles

Responses