Bí ẩn của màu sắc truyền thống (phần 3)

Bí ẩn của màu sắc truyền thống. (Ảnh: Pixabay)

Có thể thấy rằng theo truyền thống, cả màu vàng và màu tím đều tôn quý. Nhìn bề ngoài thì hai màu sắc này khá khác nhau nhưng thực tế không hề mâu thuẫn, thậm chí hai chữ này còn thường xuyên được sử dụng cùng nhau. Trong Đại Tạng Kinh miêu tả chư Phật sử dụng rộng rãi thuật ngữ “tử kim”, tức là màu vàng tím.

Xem lại Phần 1, Phần 2

Điềm lành của màu tím

Trong truyền thống, có một màu sắc khác có thể được so sánh với màu vàng là màu tím. Màu tím này được biết đến phổ biến nhất từ điển cố “tử khí đông lai” (khí màu tím từ hướng đông bay tới) trong Đạo gia. (Theo truyền thuyết, Lão Tử ra Hàm Cốc quan, có “tử khí”  từ hướng đông bay tới, người giữ ải trông thấy, chẳng bao lâu, Lão Tử cưỡi thanh ngưu khoan thai đi đến, Người giữ ải liền biết đó là thánh nhân, xin Lão Tử viết ra bộ Đạo Đức Kinh nổi tiếng).

Thế nhân tin rằng khí màu tím tượng trưng cho điềm lành, và Đạo gia chú trọng màu tím. Ví dụ, chỗ ở của tiên nhân được gọi là Tử phủ (nhà màu tím), kinh văn Đạo gia được gọi là Tử sách (sách màu tím).

Bởi vì nguồn gốc siêu phàm, màu tím đã sớm trở thành một biểu tượng tôn quý trong văn hóa truyền thống. Quyển 48 của Hậu Hán thư chép: “Trên trời có Tử Vi cung là nơi cư trú của Thượng Đế, bậc vương giả lập cung cũng theo đó mà làm.” Bởi vì người Trung Hoa cổ đại tôn trọng Thiên – Nhân hợp nhất, cho nên quy hoạch thành thị cũng phải phù hợp với thiên đạo. Đế quân trên Trời sống trong Tử Vi cung, mà Tử Vi tinh từ xưa được xưng là Đế tinh, mà làm Thiên tử thụ mệnh trời tại nhân gian, thì chỗ ở cũng có liên hệ với Tử Vi cung ở Thượng giới. Cho nên, từ trong lịch sử có thế thấy rằng, thành Lạc Dương thời Tuỳ Đường lấy tên là Tử Vi thành, Hoàng Cung thời Minh Thanh được gọi là Tử Cấm Thành.

Có thể thấy rằng theo truyền thống, cả màu vàng và màu tím đều tôn quý. Nhìn bề ngoài thì hai màu sắc này khá khác nhau nhưng thực tế không hề mâu thuẫn, thậm chí hai chữ này còn thường xuyên được sử dụng cùng nhau. Trong Đại Tạng Kinh miêu tả chư Phật sử dụng rộng rãi thuật ngữ “tử kim”, tức là màu vàng tím. Ví dụ, trong “Quan Phật tam muội hải kinh”, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được mô tả như sau: “Đức Phật Thích Ca dài sáu thước và sống trước mặt người qua đường phóng ra ánh sáng vàng tím.” Miêu tả các vị Phật khác cũng dùng từ tử kim. Phật Tỳ Bà Thi được mô tả: “Thân tử kim sắc 8 vạn 4 nghìn tướng”, còn Phật Ca Diếp được hình dung là “Thân tử kim sắc tướng tốt đầy đủ”…

Nhiều người trong giới tu luyện biết rằng cùng một màu sắc nhưng tại các không gian khác nhau có thể thể hiện sự tương phản màu sắc khác nhau. Ngay cả những người bình thường cũng có thể biết được một số tình huống tương tự thông qua kinh nghiệm, chẳng hạn như nhìn chằm chằm vào màu đỏ, sau khi nhắm mắt lại sẽ xuất hiện trước mắt họ dư ảnh thị giác có màu xanh lá cây. Không chỉ vậy, một số nghiên cứu còn phát hiện ra rằng vàng cũng có thể có màu tím.

Như chúng ta đã biết, vật chất được tạo thành từ các hạt vi mô để tạo nên các hạt lớn hơn. Đối với vàng, nếu thay đổi kích thước của các vi hạt nano ở cấp độ vi mô (1 nanomet đương tương 0,000001 mm) thì các hạt nano vàng sẽ tạo thành dung dịch huyền phù hạt vàng dạng keo trong môi trường chất lỏng (môi trường chất lỏng có thể là nước hoặc gel). Khi đó trong trong dung dịch, các hạt keo vàng có kích thước dưới 100 nanomet sẽ làm dung dịch có màu đỏ, còn các hạt trên 100 nanomet sẽ làm dung dịch có màu xanh lam hoặc tím. Tất nhiên, dù chúng xuất hiện với màu gì thì bản chất chúng vẫn là vàng.

Thí nghiệm màu vàng nano từ đỏ sang tím. Năm chai ở phần trên chứa đầy vàng, nhưng kích thước hạt siêu nhỏ của vàng trong mỗi chai đã được thay đổi; phần dưới là sơ đồ các hạt vàng cấp nano với các kích thước khác nhau. Ở cấp độ vi mô, các hạt nano vàng có kích thước khác nhau khiến vàng có nhiều màu sắc khác nhau. (Aleksandar Kondinski / Wikimedia Commons)

Hiện tượng này có thể khiến người ta nhớ đến những câu chuyện kể trong một số tác phẩm kinh điển. Trong thế giới của Thần Phật được ghi lại, mọi thứ đều lấp lánh ánh vàng kim, nhưng khi nhìn kỹ thì bên trong sinh mệnh và mọi vật đều có màu sắc của riêng mình. Những người bị giới hạn bởi phương thức tư duy cơ giới hóa hiện đại cho rằng nội dung của các tác phẩm kinh điển truyền thống là tự mâu thuẫn, nhưng họ không ngờ rằng phương pháp tư duy binh phẳng hoá duy độ thấp đã phong bế khả năng chạm đến không gian cao hơn không gian ba chiều. Hơn nữa, vàng có nhiều cấp độ vàng khác nhau, nhìn sâu vào cũng khác nhau …

Trong thế giới nghệ thuật cũng tồn tại sắc tố vàng tím. Một ví dụ nổi tiếng trong lịch sử là một loại men màu đỏ tím có tên là “Cassius’s Cher Purpur” của Đức vào thế kỷ XVII. Nhà khoa học Faraday (Michael Faraday) đã nghiên cứu và phát hiện ra rằng thành phần của sắc tố này thực ra là các hạt vàng cực kỳ mịn.

Tất nhiên, người ta không dùng vàng để tạo màu tím. Tuy nhiên, trước khi hình thành nền văn minh công nghiệp hiện đại, hầu hết việc khai thác chất màu chỉ có thể dựa vào nguyên liệu tự nhiên nên nguyên liệu làm màu tím ở phương Đông và phương Tây cũng rất khan hiếm. Ở Trung Quốc cổ đại, thuốc nhuộm màu tím thường được chiết xuất từ ​​rễ cây hoa chuông, cho năng suất thấp, nhưng cần một lượng lớn cây hoa chuông được xử lý và nhuộm nhiều lần, rất dễ phai màu. Ở phương Tây ban đầu, màu tím được chiết xuất từ ​​một ốc gai nhỏ, vì mỗi ốc gai nhỏ có thể cung cấp cực kỳ ít màu và quy trình chiết xuất phức tạp, nên giá thành cực kỳ đắt đỏ; một số được chiết xuất từ ​​nước ép của quả việt quất châu Âu, màu sắc không giống như chiết xuất từ ốc gai nhỏ. Ngoài ra, cũng có chiết xuất từ nguồn khác với sản lượng cực kỳ thấp nên không giới thiệu ở đây,

Những nguyên liệu thô khan hiếm và đắt tiền này đã dẫn đến vị thế cao của màu tím trong thị trường cổ đại, từ phương diện kinh tế cũng khiến màu này trở nên quý giá hơn ở cả phương Đông và phương Tây. Ví dụ, nhà Đường Trung Quốc quy định các quan tam phẩm trở lên phải mặc quan phục màu tím, còn dân thường thì không được mặc; ở phương Tây, Đại đế Caesar rất thích mặc áo choàng màu tím, và dần dần quan niệm màu tím là cao quý trở thành truyền thống, thậm chí hàng trăm năm sau, Hoàng gia Byzantine còn sử dụng từ Porphyrogenitus (sinh ra trong màu tím) để chỉ nguồn gốc chính thống.

Màu lam của bầu trời, màu xanh của vàng

Trong môi trường không ô nhiễm, màu lam là màu phổ biến nhất mà mọi người có thể nhìn thấy sau khi ra ngoài, vì nó là màu cơ bản của bầu trời bao la.

Màu sắc của bầu trời không phải là một màu lam không thay đổi. Tùy theo thời điểm mà ban ngày có màu xanh da trời và ban đêm có màu xanh sẫm, theo sự thay đổi của mùa và thời tiết, nó có khi có màu xanh tím, có khi là xanh lam ngọc…

Văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc đều có câu nói là “thiên địa đối ứng”. Màu xanh da trời này có thể tương ứng với một loại đá quý màu xanh trên mặt đất. Màu của nó có thể là xanh lam đậm, xanh da trời, xanh tím, được gọi là Thanh kim thạch, Phương Tây gọi là Lapis lazuli.

Hình ảnh Thanh kim thạch (Lapis lazuli). (Grendelkhan / Wikimedia Commons)

Trong sự kế thừa nền văn hóa cổ xưa của mình, các dân tộc khác nhau đã nhận ra rằng loại đá quý này là biểu tượng của Thiên khung và Thần thánh. Hàng nghìn năm trước, cho dù là người Sumer, người Ai Cập cổ đại hay người Anh-điêng ở phía bên kia trái đất đều coi Thanh kim thạch như một báu vật phi thường và sử dụng nó trong các nghi lễ, thờ cúng và trừ tà. Những nét văn hóa truyền thống này có nội hàm phi thường, ngay cả sau khi một số nền văn minh cổ đại biến mất, chúng vẫn tồn tại trên thế giới và được kế thừa bởi các nền văn minh khác. Đến triều đại nhà Thanh của Trung Quốc, khi tổ chức nghi lễ, hoàng đế sẽ phải mặc triều phục màu xanh lam và đeo 108 hạt Thanh kim thạch.

Nhiều người biết rằng thực sự có rất nhiều khoáng chất màu xanh lam trong tự nhiên, chứ không chỉ là loại đá quặng này. Có thể tùy ý tìm thấy loại đá xanh “sắc như trời” này, vậy tại sao Thanh kim thạch lại được ưu ái như vậy?

Lý do lại liên quan đến Thần Phật. Dưới đây có thể cung cấp cho đọc giả một vài ví dụ:

Thần mặt trăng trong thần thoại Lưỡng Hà của Akad, Assyria và Babylon được gọi là “Sin” (Sin, trong tiếng Sumer gọi là Nannar). Tương truyền, ông có một đặc điểm về ngoại hình, đó là ông có một bộ râu làm bằng Thanh kim thạch.

Tình huống này không phải là hiếm, và cũng có những ghi chép tương tự trong thời Ai Cập cổ đại. Như đã đề cập trước đó, người Ai Cập cổ đại nhận thức rằng vàng là Thần thể, nhưng họ có nhận thức chi tiết hơn – đó là tóc của Thần do Thanh kim thạch cấu thành.

Vị thần tối cao “Ra” trong thần thoại Ai Cập (Ra, thần mặt trời và thần sáng tạo của Ai Cập cổ đại) là đại biểu của loại Thần thể này. Người Ai Cập cổ đại cho rằng thân thể của vị thần này là vàng và tóc là Thanh kim thạch tinh khiết.

Người phương Đông chắc sẽ cảm thấy quen thuộc với khái niệm Thần thể thân vàng tóc lam. Bởi vì trong nghệ thuật Phật giáo, phần lớn hình tượng Phật đều là dạng như thế. Trong mỹ thuật Phật giáo còn có một loại sơn gọi là “Phật thủ thanh” (hay còn gọi là “Phật thanh”), dùng để nhuộm màu tóc của tượng Phật. “Phật thủ thanh” chỉ là tên của màu sắc, và không giới hạn nguyên liệu thô, vì vậy bột màu azurite, bột màu lapis lazuli, hoặc thậm chí hỗn hợp của cả hai đều được sử dụng.

Lớp sơn Phật thanh được sơn trên thân tượng Phật bằng vàng có độ bão hòa cao hơn và màu đậm hơn một chút, có thể tạo nên sự tương phản màu sắc với vàng. Vào thời cổ đại, để có thể thể hiện được màu xanh lam của loại vàng này, người ta đã chế tạo ra vật liệu tạo màu lý tưởng bằng cách mài Thanh kim thạch. Tuy nhiên, vì việc sử dụng đá quý làm chất màu rất tốn kém, nên nó phổ biến hơn ở các di tích Phật giáo quy mô vừa và nhỏ ở những khu vực ở Tây Vực chịu ảnh hưởng lớn của Phật giáo. Mà Trung Quốc từ hàng nghìn năm trước đã có xu hướng sử dụng đồng xanh làm chất tạo màu. Tất nhiên, cũng có nhiều tượng Phật mà tóc không được nhuộm màu. Nhưng ở Tây Tạng, sơn làm bằng thanh kim thạch thường được thấy trên các bức thangkas vẽ tay.

Được tôn trí trong đền Nativity Temple of Renhuain Temple ở thành phố Tamana, tỉnh Kumamoto, Nhật Bản, tượng của Bất Không Thành Tựu Như Lai, một trong năm vị Tathagatas của Phật giáo Mật tông, chủ trì thế giới Liên Hoa phía Bắc. Toàn bộ tượng Phật đều là màu vàng, nhưng tóc của Phật lại có màu xanh lam, đây là một đặc điểm chính trong nghệ thuật Phật giáo. (Ito Shigetsu / Wikimedia Commons)

Việc chế tạo Thanh kim thạch thành bột màu ultramarine phổ biến hơn trong lịch sử nghệ thuật phương Tây. Trong bài viết “Diễn giải mỹ thuật trong hai trăm năm sau thời kỳ Phục hưng” có viết về truyền thống sử dụng bột màu ultramarine trong hội họa phương Tây để vẽ áo choàng của Thánh Maria. Màu xanh lam đắt đỏ này được dùng để thể hiện sự Thần thánh. Tất nhiên, loại sơn này không chỉ giới hạn trong việc vẽ trang phục của Thánh Maria, các bức tranh truyền thống thường sử dụng màu này cho trang phục của Thượng Đế và Chúa Giê-su.

Bức Thánh Maria do họa sĩ người Ý Giovanni Battista Salvi da Sassoferrato vẽ vào khoảng năm 1654. Màu xanh lam của trang phục Santa Maria trong bức tranh được tạo ra bằng cách chiết xuất từ Thanh kim thạch. (Phạm vi công cộng) Tranh sơn dầu của họa sĩ người Pháp Laurent de La Hyre (L’Apparition du Christ aux pèlerins d’Emmaüs) được vẽ vào năm 1656. Trang phục màu xanh của Chúa Giêsu trong bức tranh cũng được vẽ trên chất liệu ultramarine làm từ thanh kim thạch. (Phạm vi công cộng)

Trong lịch sử mỹ thuật, người ta thường sử dụng vàng và Thanh kim thạch làm nguyên liệu trong các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo, người ta thường cho rằng đó là do sự kính ngưỡng của con người đối với Thần nên đã sử dụng những chất liệu đắt tiền để vẽ nên những tác phẩm nghệ thuật ca tụng Thần. Xác thực là như vậy, nhưng đó chỉ là biểu hiện bên ngoài. Kỳ thật, những chất này không dùng chỉ vì giá thành cao mới được dùng thể biểu đạt sự thần thánh, mà bản thân những chất liệu này đắt tiền cũng có nguồn gốc của nó. Kỳ thực, vạn vật đều có linh, mọi thứ tồn tại đều có nguyên nhân sâu xa, bản thân vật liệu cũng liên quan đến học vấn cao thâm hơn, chỉ có thể hiểu dùng tâm sáng suốt mà lĩnh ngộ, tùy duyên mà đắc được.

Một điều cần lưu ý nữa là Thanh kim thạch không được gọi với cái tên hiện tại này của nó trước triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Vì Trung Quốc đã nhập khẩu loại đá quý này từ các nước khác từ xa xưa, trải qua các địa khu khác nhau, triều đại khác nhau, tên gọi của nó trở nên rất hỗn loạn; ngoài ra, người xưa cũng có thể nhầm lẫn với các loại khoáng vật màu lam khác khi đặt tên cho chúng; thêm vào đó người xưa khi đặt tên cũng lẫn lộn với loại lam khoáng thạch khác, vì vậy trong việc nghiên cứu văn hiến trên các tài liệu cổ của Trung Quốc có một số yếu tố không chắc chắn. Tuy nhiên, nếu nó có thể được bổ sung bằng các tài liệu tiếng nước ngoài có liên quan, thì sẽ dễ dàng biết rõ tình huống cụ thể.

Một ví dụ nổi tiếng là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, thường được gọi là Dược Sư Phật, vị Phật chủ chủ trì thế giới Lưu Ly. Mặc dù đều là những danh hiệu quen thuộc nhưng có lẽ nhiều người còn mơ hồ hơn về khái niệm Lưu Ly. Chính xác thì Lưu Ly rốt cuộc là gì? Chúng ta hãy tham khảo các ngôn ngữ của các nước khác: Dược Sư Lưu Ly Quang Vương trong tiếng Anh gọi là Medicine Master and King of Lapis Lazuli Light, trong tiếng Pháp được dịch là Maître guérisseur de la Lumière de Lapis-lazuli, trong tiếng Ý được dịch là Maestro della Medicina dalla Luce Lapislazzuli; còn cụm từ “Thế giới Lưu Ly thuần tịnh phương Đông” trong tiếng Anh là Eastern pure land of Pure Lapis Lazuli, tiếng Pháp là Terre pure de pur Lapis-lazuli, tiếng Ý là Pura terra di puro Lapislazzuli. Tất cả những chỗ tương ứng với từ Lưu Ly trong các cụm từ này đều được viết là “Lapis lazuli” (hoặc dạng di thể của nó), cũng chính là Thanh kim thạch trong tiếng Trung.

Dược Sư Phật ngồi giữa và hai vị Bồ tát đứng ở hai bên. Dược Sư Phật tên đầy đủ là “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai”, theo Phật giáo, màu xanh lam của thanh kim thạch là màu thân của Dược Sư Phật. (Phạm vi công cộng)

Tuy nhiên, thế giới Lưu Ly chỉ là một cách gọi tắt. Lưu Ly ở đây không phải là Lưu Ly của chốn phàm trần, mà là “Tịnh Lưu Ly”, tiếng Anh gọi là “Pure Lapis Lazuli”, tiếng Pháp là “Pur Lapis-lazuli” … Dịch sang tiếng Trung Quốc hiện đại là nghĩa là “Thanh kim thạch thuần tịnh”. Khoáng thạch ở nhân gian kỳ thực rất không thuần khiết, khác xa với trân bảo Phật gia được ghi chép trong sách cổ, vì vậy bài viết này không quảng cáo cho Thanh kim thạch. Mặc dù Thanh kim thạch là một trong thất bảo của Phật giáo và được các thợ kim hoàn coi trọng, nhưng từ thời cổ đại, tu luyện đã yêu cầu phải từ bỏ các chấp trước vật chất, điều quan trọng là việc đề cao tâm tính của người tu, và chính tín của con người đối với Thần Phật.

* * * * * * * * * *

Do giới hạn về độ dài, nên không viết nhiều nữa. Bài viết này chỉ đơn giản liệt kê thêm một vài màu truyền thống tiêu biểu, và còn rất nhiều màu khác chưa được đề cập đến. Kỷ thực chủ yếu muốn nói với mọi người rằng màu truyền thống của Trung Quốc không phải là màu đỏ chói mà mọi người lạm dụng đến mức như ngày nay.

Qua quá trình nghiên cứu lịch sử, chúng tôi nhận thấy màu sắc truyền thống chân chính có liên quan mật thiết đến Thần Phật, Thiên Địa. Cho dù đó là “Kim thân” được đề cập trong Phật giáo hay “tử khí” được đề cập trong Đạo giáo, những màu sắc này đều mang lại cho con người cảm giác rất tích cực, cao quý trang nghiêm, siêu phàm thoát tục. Ngược lại, chốn phàm tục được gọi là “hồng trần”, nơi ô uế gọi là “khu đèn đỏ”,… những từ ngữ này cả thế giới đều dùng, cho thấy cảm thụ của mọi người đối với màu sắc đều giống nhau.

Tất nhiên, về chức năng của màu sắc, các màu khác nhau có công dụng khác nhau. Tác giả không bác bỏ màu đỏ, bởi vì màu đỏ cũng có nhiều mức độ khác nhau của màu đỏ. Điều kiến nghị ở đây là tránh sử dụng một màu sắc quá cực đoan, giống như sự tôn sùng màu đỏ quá mức hiện nay. Hy vọng bài viết này có thể cung cấp một góc nhìn mới cho đọc giả tôn trọng màu sắc truyền thống, để mọi người một lần nữa cảm nhận được thế giới truyền thống đầy màu sắc và tươi đẹp.

Lam Sơn
Theo  Anaud. H – The Epochtimes

Related Articles

Responses