Ấu Học Quỳnh Lâm – Bài 34: La bàn và Hỗn Thiên Nghi

Lão Tử nói: “Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên”. Khoa học thời cổ đại là học tập trực tiếp hướng đến Trời đất và vũ trụ, có một vũ trụ quan vô cùng to lớn. Thế nào là hướng đến Trời mà học tập?

Nguyên văn

周公作指南車,羅盤是其遺制;錢樂作渾天儀,歷家始有所宗。

Hán Việt

Chu Công tác Chỉ nam xa, La bàn thị kỳ di chế; Tiền Nhạc tác Hỗn Thiên Nghi, lịch gia thủy hữu sở tông.

Bính âm

Zhōugōng zuò zhǐnán chē, luópán shì qí yízhì; qián yuè zuò hùntiānyí, lì jiā shǐ yǒu suǒ zōng

Giải thích từ ngữ

(1) 周公 Chu Công: họ Cơ, tên Đán, người Tây Chu, con trai Chu Văn Vương, em trai Cho Vũ Vương, giúp cho Võ Vương diệt nhà Ân Thương. Võ Vương băng hà, phụ tá cho Thành Vương kế vị, tạo ra nhạc, kiến lập pháp chế của nhà Chu.

Tranh vẽ Chu Công (Tam tài đồ hội)

(2)指南車 Chỉ nam xa: một loại khí cụ dùng để đi về một hướng nhất định, dùng các bánh răng để chạy hệ thống. Trên xe có một người gỗ nhỏ luôn luôn chỉ về phía Nam.
(3)羅盤 La bàn: dụng cụ xác định phương hướng, cấu tạo gồm có một cái bàn khắc phương vị, ở giữa là nam châm chỉ về hướng Nam.
(4)遺制 Di chế: một mô hình được lưu lại.
(5)錢樂 Tiền Nhạc: người thời Lưu Tống, Nam triều.
(6)渾天儀 Hỗn thiên nghi: trước đây gọi là Hỗn Nghi, Hỗn Tượng. Là một dụng cụ nghiên cứu thiên văn quan trọng thời cổ đại
  (7)  歷家 Lịch gia: nghĩa là nhà thiên văn
(8)宗 Tông: cơ sở, tuân theo.

Dịch nghĩa

Chu Công đã phát minh ra xe chỉ nam, la bàn là di sản của ông. Người Lưu Tống thời Nam triều là Tiền Nhạc phụng mệnh chế tạo Hỗn Thiên Nghi theo sáng chế của Trương Hoành để quan sát thiên thể vận hành. Từ đó làm cơ sở cho những nhà nghiên cứu thiên văn lịch pháp.

Tranh của Cừu Anh vẽ Chu Công trong “Đế vương đạo thống vạn niên đồ”

Đọc sách bút đàm

Trong bài học này, các em có thể cảm thấy rằng nó gần với kiến ​​thức của khoa học hiện đại hơn và công nghệ cao mà dân tộc chúng ta từng có mà chúng ta có thể tự hào cuối cùng đã xuất hiện.

Trên thực tế, khi người xưa đề cập đến những công nghệ này thì về cơ bản chúng vẫn khác với cách hiểu của chúng ta ngày nay. Chính sự khác biệt trong khái niệm cơ bản này đã làm cho khoa học và công nghệ cổ đại của chúng ta trở nên rất huyền diệu và khó hiểu đối với người hiện đại. Họ thường không có cách nào giải thích nguồn gốc của các trí tuệ đó. Và điều khó hiểu hơn nữa là trước nền văn minh phương Tây cả nghìn năm mà lại có quá nhiều công nghệ văn minh xuất hiện, mà những điều này dường như đột nhiên được phát hiện và truyền lại cho con người bởi những thiên tài nhất định mà không cần phải nghiên cứu nó. Chỉ có thể có một lời giải thích cho hiện tượng này, đó là khoa học và công nghệ cổ đại phải được khai phát từ những người tài đức cao cả. Có một truyền thống và luật lệ để dẫn dắt đệ tử từ xa xưa: những bí thuật phải được truyền lại cho những người có đạo đức.

Với sự suy thoái dần của đạo đức ở các thế hệ sau, hiện tượng này đã xuất hiện đầu tiên ở y học cho đến mọi khoa học kỹ thuật. Nhiều thứ bị thất truyền, những thứ còn lưu lại thì có xem cũng không thể hiểu thấu. Cho đến ngày nay, người ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận khoa học thực nghiệm phương Tây. Chúng ta cũng không thể hiểu được văn hóa Thần truyền của Trung Quốc nữa. Không có đức hạnh cao như vậy để có thể đủ điều kiện để lĩnh hội những thần kỹ cao siêu như thế. Vì vậy, mọi người lầm tưởng rằng chỉ có thời hiện đại mới có cái gọi là công nghệ cao.

Thuộc hạ của Hoàng Đế là Phong Hậu phát minh ra xe chỉ nam, ảnh là mô hình mô phỏng thời nay. (Ảnh: Wikimedia)

Có người đã chỉ ra rằng, sự băng hoại của đạo đức chẳng khác nào trong tâm người ta mất đi thiên nhãn đầy trí huệ, từ đó không còn nhìn thấy chân tướng bên ngoài thế giới vật chất. Vì vậy, họ cần phải dựa vào các loại công cụ hiện đại để khám phá những bí ẩn của vũ trụ, giống như một người mù sờ vào một con voi, không thể nhìn thấy toàn bộ con voi to lớn, trong khi một người sáng suốt, không cần mò mẫm cũng có thể nhìn thấy trực tiếp. Cho nên, thời cổ đại có những Thần y cũng như những nghệ nhân có phép thần như Lỗ Ban, hay thiên văn học có Trương Hành vào thời Đông Hán cũng là một người tín Thần tu Đạo và có đạo đức rất cao, từ sớm đã phát minh Hồn Thiên Nghi (công cụ quan sát thiên văn), Địa Động Nghi (thiết bị dự báo động đất). Những nền văn minh này con người không thể nghĩ ra được. Cũng giống như Hoàng Đế trong mộng đến Hoa Tư Quốc giác ngộ ra vô vi trị quốc. Vì đạo đức cao thượng, nên việc trị vì đất nước chính là tu Đạo, không ngừng sửa đổi bản thân,cho đến khi đắc Đạo thăng thiên mà vẫn còn để lại “Hoàng Đế nội kinh”. Bây giờ có bao nhiêu người có thể hiểu được?

Phát minh của các nhà phát minh cổ đại cũng giống như kỹ thuật của Thần y Tôn Tư Mạc, đều là những người tu luyện, tu Đạo, có thể nhìn ra căn nguyên của bệnh tật bằng thiên mục. Khi đó, toàn xã hội đều đề cao đạo đức, chỉ cần mọi người đều đề cao đức hạnh thì dù làm việc gì cũng tương đương với bước đi trên con đường tu hành.
Thời đó các ngành các nghề trong các thời đại khác nhau đều có người được Trời phú cho thần thông, có được thiên mục, được xem như công năng đặc dị, cho phép anh ta thấy được Thiên cơ, để anh ta ghi lại và truyền cho nhân loại dùng, không cần mọi người phải đến học hay nghiên cứu, mà thông qua một người đạo đức cao thượng được Trời chọn, chỉ cần xem trực tiếp là được. Một khi đạo đức bại hoại, tự nhiên sẽ không còn trí huệ, kể cả khi sách sử còn lưu lại, người ta cũng xem không hiểu thiên cơ nữa. Mà nền khoa học thực chứng cũng giống như người mù sờ voi vậy, nó vô cùng chậm chạp.

Chúng ta biết rằng, giáo dục tiểu học thời cổ đầu tiên đọc “Tam tự kinh”, trong đó giảng đến Tam Tài là Thiên Địa Nhân, con người cùng Trời Đất luôn kết nối với nhau. Lão Tử nói: “Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên, Thiên pháp Đạo, Đạo pháp Tự nhiên”. Khoa học thời cổ đại là học tập trực tiếp hướng đến Trời đất và vũ trụ, có một vũ trụ quan vô cùng to lớn. Thế nào là hướng đến Trời mà học tập?

Khổng Tử giảng “Vi chính dĩ đức” (làm chính trị bằng đạo đức), chữ Đức 德 này, cùng với chữ Đắc 得 là đồng âm, thời cổ giải thích là Thăng, là Phúc. Chính là nói với người ta rằng hãy xây dựng sự nghiệp xung quanh chữ Đức này ắt sẽ thăng hoa trí huệ, có thể đắc được Thần linh chỉ dẫn, hoặc là đắc phúc báo, nào phải là chỉ có trị quốc nắm quyền mà thôi đâu? Do đó cách giáo dục mà Khổng Tử lưu lại, chẳng phải là sự kế thừa văn hóa Tổ tiên Thiên nhân hợp nhất là gì? Chẳng phải là chân chính hợp với Thiên cơ? Do đó trọng đức ắt sẽ có trí huệ, phải chăng là con đường tắt để đạt được Thiên cơ? Đó không phải là cách gần nhất để tiếp cận với Đạo ở tầng thứ con người là gì?

Do đó, ngày nay chúng ta học về bách khoa tri thức thời cổ, tri thức khoa học kỹ thuật, nên phải biết rõ, không phải là quan niệm của người hiện đại, mà là khái niệm Văn hóa Thần truyền, chú trọng đạo đức phẩm hạnh. Là văn hóa kính Thần trọng đức, là văn hóa khởi nguồn từ tu Đạo. Khoa học kỹ thuật thời cổ đại, vốn là siêu vượt khỏi khả năng của con người. Đây là niềm tự hào của nền văn hóa truyền thống Á Đông.

Kể chuyện

Công cụ hàng hải cổ đại, kim chỉ nam và la bàn

Có hai truyền thuyết khác nhau về việc phát minh ra xe chỉ nam. Một được công nhận bởi hầu hết mọi người là nó được phát minh bởi Hoàng Đế. Theo truyền thuyết, trong trận chiến giữa Hoàng Đế và Xi Vưu, trên chiến trường đột nhiên xuất hiện một màn sương mù dày đặc, không thể phân biệt được phương vị. Trong lúc khẩn cấp, Hoàng Đế đã phát minh ra xe chỉ nam. Trên xe chỉ nam có một người gỗ, dù xe có rẽ thế nào thì ngón tay của người gỗ vẫn luôn chỉ về phía Nam, với sự chỉ dẫn của xe chỉ nam, cuối cùng Hoàng Đế đã đánh bại Xi Vưu. Một giả thuyết khác cho là do Chu Công phát minh ra vào đời Chu Thành Vương Khi đó, một sứ giả từ một quốc gia nào đó ở phía Nam đến triều cống Trung Quốc, nhưng bị lạc trên đường trở về đất nước của mình. Chu Công bèn chế ra xe chỉ nam dẫn đường cho sứ giả về nước.

La bàn xuất hiện vào thời Nam Tống, chính là kim chỉ nam, dựa trên nguyên tắc của xa chỉ nam, nhưng xe chỉ nam được chế tạo trên cơ sở nguyên lý cơ học của bộ vi sai bánh răng, còn la bàn được chế tạo theo nguyên tắc nam châm hướng tới cực bắc và cực nam của từ trường trái đất.

La bàn phong thủy Trung Quốc (Ảnh: Fotolia)

Người Trung Quốc vào thời Chiến Quốc đã phát hiện ra lực hấp dẫn của đá nam châm và sử dụng nam châm để chỉ ra đặc tính của hướng Nam và Bắc, và chế tạo ra công cụ chỉ nam sớm nhất là Tư Nam. Vào thời Bắc Tống, trong “Mộng Khê bút đàm” của Thẩm Quát đã ghi lại bốn phương pháp lắp đặt la bàn khác nhau, đó là phương pháp Thủy phù pháp (phao nổi trên mặt nước), Lũ huyền pháp (treo chỉ), Oản thần pháp (dùng kim từ đặt trên miệng chén) và Chỉ giáp pháp (dùng kim từ đặt trên ngón tay). 

Trong số đó, con trỏ của phương pháp treo là linh hoạt và có độ chính xác cao, nhưng có nhiều hạn chế, không được có gió, rung lắc khi sử dụng. Phương pháp phao nổi trên mặt nước là thực tế nhất, vì kim từ tính nổi trên mặt nước, có thể giữ độ và độ ổn định của kim từ tính tốt hơn. Trong quá trình thử nghiệm, Thẩm Quát phát hiện ra rằng kim từ tính không chỉ chính xác theo hướng Bắc – Nam mà hơi hướng về phía Tây Bắc và Đông Nam, và do đó phát hiện ra hiện tượng “lệch hướng địa từ”. Và nghiên cứu của Thẩm Quát về phương pháp trang trí kim từ tính sau đó đã được phát triển thành la bàn hàng hải.
Trung Quốc không chỉ là quốc gia đầu tiên phát minh ra la bàn mà còn là quốc gia đầu tiên sử dụng la bàn để điều hướng. Sách “Bình Châu khả đàm” đời Bắc Tống ghi: “Người lái thuyền biết địa lý, đêm xem sao, ngày nhìn mặt trời, tối tăm xem la bàn.” Đây là ghi chép đầu tiên trên thế giới về việc dùng la bàn để chèo thuyền. Vào thời Nam Tống, người Trung Quốc bắt đầu kết hợp kim từ và đĩa phương vị để tạo thành “la bàn”, thời đó người ta gọi nó là “Địa Loa”, còn được gọi là “la bàn”. Sau khi la bàn được truyền bá đến Châu Âu, nó đã có tác động lớn đến toàn thế giới.

Thiết bị quan trắc thiên văn cổ đại – Hỗn Thiên Nghi

Hỗn Thiên Nghi còn có tên là Hỗn Tượng, Hỗn Nghi, là thiết bị nghiên cứu thiên văn chủ yếu của Trung Quốc cổ đại, dùng để quan sát các vì sao, phán đoán thời tiết. Cổ nhân cho rằng bầu trời tròn như quả trứng gà, mặt đất bao quanh bởi bầu trời, không có khởi đầu cũng không có kết thúc nên gọi là “Hỗn Thiên Nghi”.

Hỗn Thiên Nghi còn gọi là Hồn Tượng, là một quả cầu kim loại có khắc độ số. Giá treo quả cầu đại diện cho xích đạo và hoàng đạo của thiên thể, vòng Tý Ngọ… Quả cầu kim loại đại biểu cho thiên thể ở chính giữa thường là địa cầu hay mặt trời. Hồn Tượng chủ yếu dùng biểu thị quỹ tích của thiên thể xung quanh địa cầu. Hình chụp một Hồn Thiên Nghi to bằng đồng tại Thụy Sĩ, nơi khuôn viên của Tổng hành dinh Liên Hiệp Quốc ở châu Âu. (Thông tấn xã Pháp)

Có thuyết cho rằng thời Nghiêu Thuấn đã có Hỗn Thiên Nghi, nhưng trên lịch sử có ghi chép rõ là nó do Trương Hành chế tác vào thời Đông Hán. Trương Hành nghiên cứu các tư liệu của tiền nhân, chế tạo ra Hỗn Thiên Nghi dùng thủy lực để xoay chuyển đầu tiên trên thế giới, còn gọi là “Lậu thủy chuyển Hỗn Thiên Nghi”. Nó bao gồm nhiều vòng tròn đồng tâm có thể xoay được. Vòng được làm bằng đồng tốt có khắc đường xích đạo, đường hoàng đạo, cực Bắc và Nam, 24 tiết khí, mặt trăng mặt trời và các vì sao. Sử dụng nước nhỏ giọt từ một cái đồng hồ nước để làm cho quả cầu quay tròn. Một vòng của quả cầu bằng chính xác một ngày, chính xác bằng tốc độ quay của trái đất. Nó có thể đo chính xác hiện tượng thiên thể.

Vào triều đại Lưu Tống, Nam triều, thái sử ra lệnh cho Tiền Nhạc dùng đồng chế tạo ra Hỗn Thiên Nghi theo sáng chế của Trương Hoành.

Minh Bảo

Theo Epochtimes.

Related Articles

Subscribe
Notify of
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x