News Feed

Đại Đạo trị quốc (Phần 12): Gương soi Đạo Đức

Duyên trần gian chưa có, cơ duyên chưa chín, tuyệt không thể cưỡng hành, khi phạm vào tấm lưới này, tự thân không thể thoát ra được. (Ảnh: NTDVN tổng hợp)

Kỳ thực đây chính là trí huệ của Trung Dung. Vạn vật trong thiên hạ đều không giống nhau, như vậy mới có thể cấu thành nên thế giới tự nhiên muôn màu muôn sắc, nếu chúng giống hệt nhau, thì quả là đáng sợ! nó sẽ có dạng thức phát triển giống như các tế bào bệnh độc và ung thư vậy

(Xem lại: Phần 1; Phần 2; Phần 3; Phần 4; Phần 5; Phần 6; Phần 7-1; Phần 7-2; Phần 8-1; Phần 8-2; Phần 9; Phần 10; Phần 11)

Trong các phần trước có đưa ra nhiều dẫn chứng cho lý tương sinh tương khắc, nhưng đó chỉ là những dẫn chứng đơn giản, điển hình nhất. Thực ra, mối quan hệ tương sinh tương khắc này cực kỳ phức tạp, không chỉ là quan hệ đơn giản của hai hiện tượng, mà là mối liên quan đan xen phức tạp các tín tức của vạn sự vạn vật. Thiên Địa vạn vật là một cơ chế chỉnh thể, vạn sự vạn vật đều nằm trong vòng tương sinh tương khắc, ảnh hưởng lẫn nhau, chế ước lẫn nhau, dệt nên một tấm lưới cực lớn, kéo một cái là động toàn bộ. Rơi vào lưới là không thoát được, trở thành một bộ phận của lưới, ở trong đó mà luân hồi sinh diệt. Trong lịch sử, đừng nói phàm nhân, mà ngay cả Thần Tiên cũng không dám tùy tiện động vào tấm lưới này, khi xưa Thần Tiên tiến nhập thế gian, sự sự đều phải tùy duyên, tuân theo Thiên ý.

Duyên trần gian chưa có, cơ duyên chưa chín, tuyệt không thể cưỡng hành, khi phạm vào tấm lưới này, tự thân không thể thoát ra được.

Điều “Chu Dịch” khai sáng, kỳ thực cũng là lý Trung Dung, chỉ là phàm nhân không nhìn ra mà thôi. “Chu Dịch” là bộ Thiên thư mật mã, ghi chép quan hệ đối ứng của Thiên tượng và nhân gian. Đại Đạo sinh ra Thiên Địa vạn vật, Thiên tượng sinh ra địa lý cùng văn hóa của con người, “Chu Dịch” ghi chép quá trình Đại Đạo sinh ra Thiên Địa vạn vật, ghi chép toàn bộ quá trình luân hồi của vạn sự vạn vật trong quy luật Thành, Trụ, Hoại, Diệt.

“Chu Dịch” là bộ Thiên thư mật mã, ghi chép quan hệ đối ứng của Thiên tượng và nhân gian. (Ảnh: NTDVN tổng hợp)

Xem thấu “Chu Dịch”, có thể từ trong đó mà tìm ra một con đường, đặt vạn vật vào vị trí bất bại, con đường đó chính là Trung Dung, đây chính là hồn cốt của Chu Dịch. Văn hóa Trung Hoa vô cùng vĩ đại, là của Thần Phật truyền cấp cho nhân loại, vào một thời khắc vô cùng đặc thù, ngưng tụ tinh hoa của vũ trụ. Thần Phật khắp không gian đều trầm trồ, chỉ có phàm nhân là không biết.

Quan hệ tương sinh tương khắc của vạn vật là hết sức phức tạp. Đoạn trước là chỉ để tiện cho lý giải, mà lấy các ví dụ đơn giản nhất, giữa vạn sự vạn vật đều tồn tại các quan hệ đan xen, đều liên quan đến tương sinh tương khắc, mà dệt thành tấm lưới khổng lồ, động một cái là rung toàn bộ lưới.

Lấy Đức làm ví dụ. Khi Thiên hạ vẫn còn trong Đạo, cơ bản là không có khái niệm Đức, khi Thiên hạ lệch khỏi Đạo, mới sinh ra Đức, Đức dựa vào Đại Đạo mà kiến lập nên các tiêu chuẩn hữu hình, duy chỉ có tuân theo Đạo mới là Đức. Thủa ban đầu, nhân loại lệch khỏi Đạo chưa nhiều, nên Đức rất đơn giản. Càng ngày nhân loại càng lệch khỏi Đạo, tư dục ngày càng nhiều, Đức sinh ra càng nhiều, càng phức tạp, hoàn bị, phân thành nhiều loại như: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Thứ, Hiếu, Đễ, Cung, Thuận, Trinh, Tiết, Khiêm, Kiệm…

Tất cả các Đức này đều từ một nguồn sinh ra, giữa chúng đều có tồn tại quan hệ tương sinh tương khắc, đan xen lẫn nhau, hình thành nên tấm lưới lớn. Ví dụ: Nội hàm của “Nhân” là yêu mến, bảo hộ vạn vật, mà ái hộ to lớn nhất là làm cho vạn vật trở về với Đại Đạo, đạt tới trạng thái hài hòa hoàn mỹ nhất, từ đó mà không còn thống khổ, họa tai.

Nội hàm của “Nghĩa” là tuân theo Đạo và bảo vệ Đạo. Từ đây có thể thấy, “Nhân” có thể sinh ra “Nghĩa”, “Nghĩa” có thể sinh ra “Nhân”. Cũng vậy, “Nhân, Nghĩa” có thể sinh ra “Lễ, Trí , Tín, Trung, Hiếu”… chúng có quan hệ đan xen, hình thành nên tấm lưới, không phải là quan hệ đơn thuần, động đến một thứ, là động đến cả chỉnh thể.

Ví như, nếu “Nhân” quá độ, vượt khỏi nguyên tắc, sẽ sinh ra ác, sẽ tổn hại đến chỉnh thể, hại đến Đức. Như đối với kẻ thập ác bất xá mà giảng “Nhân”, đối với kẻ phá hoại Đại Đạo, hành ác tổn hại vạn vật mà giảng “Nhân”, như vậy “Nhân” sẽ mất đi pháp độ và biên giới, thành ra Ác, thành ra bảo hộ dung túng tà ác, tổn hại đến Đức.

Cũng vậy, thủ tín quá độ, thủ tín lời thề với tà ác, thì trở thành ác. Các Đức khác, nếu quá độ, vượt khỏi nguyên tắc, thì đều như vậy.

Đức chân chính, lấy Đại Đạo làm hạt nhân, làm chuẩn tắc, nếu rời khỏi Đại Đạo, tuy vẫn là tên gọi ấy, nhưng đã không còn là Đức nữa. Do đó, thủ Đức, cần phải duy trì Trung Dung, Đức Trung Dung mới là Đức chân chính.

Thế nào gọi là Đức Trung Dung, tác giả đề xuất một tiêu chí, đó là: “Đại Đạo vi tông, Đức bất tương hại.”

Tức là lấy Đại Đạo làm tông chỉ, không có xung đột với chỉnh thể của Đức, không hại lẫn nhau.

Tất cả các Đức đều trong vòng tương sinh tương khắc, hình thành nên tấm lưới quan hệ. Bất kỳ Đức nào cũng phải được đặt vào tấm lưới này mà đánh giá, thì mới tránh được thái quá, duy trì cân bằng tổng thể, không rời xa Đại Đạo. Nếu lấy bất kể Đức nào đem ra dùng độc lập, thì sẽ thái quá, phá vỡ cân bằng tổng thể. Thậm chí có lúc trong chỉnh thể, hai Đức có thể xung đột lẫn nhau. Ví dụ, Trung và Hiếu không thể câu toàn, lúc này cần lấy Đại Đạo, bỏ Tiểu Đạo, chọn lấy Trung mà xả bỏ Hiếu. Nhưng nếu phát sinh xung đột giữa Trung quân (Trung với vua) và bảo vệ Đại Đạo, thì phải chọn bảo vệ Đại Đạo mà xả bỏ Trung quân, đây chính là tuân theo nguyên tắc Đại Đạo vi tông.

Đây cũng giống như thân thể người, lục phủ ngũ tạng, gân cốt thịt da, kinh mạch huyệt vị cùng nhiều thể khác kết cấu mà thành thân thể, chúng là nhất thể, một thứ tổn thì tất cả tổn, một thứ vinh thì tất cả vinh, không có một bộ phận nào có thể tồn tại đơn độc. Dưỡng sinh của Trung Y, chú trọng sự cân bằng của chỉnh thể, có vậy mới đạt khỏe mạnh. Nếu chỉ đơn độc chú trọng một bộ phận, bồi dưỡng đặc biệt cho nó, thì sẽ làm tổn hại các cơ quan khác, mà bất kỳ cơ quan nào suy kiệt sẽ dẫn đến tử vong, kết quả là bộ phận được bồi dưỡng ấy cũng vô ích, trái lại còn phá vỡ cân bằng tổng thể, cùng theo đó mà bị hủy diệt.

Lục phủ ngũ tạng, gân cốt thịt da, kinh mạch huyệt vị cùng nhiều thể khác kết cấu mà thành thân thể, chúng là nhất thể, một thứ tổn thì tất cả tổn, một thứ vinh thì tất cả vinh, không có một bộ phận nào có thể tồn tại đơn độc. (Ảnh: NTD Việt Nam tổng hợp)

Đây là nội hàm tầng thứ ba của Trung Dung mà tác giả đề xuất: Cân bằng hài hòa tự nhiên vạn vật, cùng sinh cùng tồn, chỉnh thể thăng hoa.

Xin đưa hai ví dụ minh họa:

Thời cổ có câu chuyện “Vĩ sinh ôm cột”, kể rằng thời Xuân Thu, nước Lỗ có vị thanh niên họ Vĩ, có hẹn gặp mặt với một cô gái dưới cầu. Tới hẹn, cô gái tới muộn, lúc này nước sông dâng cao, Vĩ sinh do thủ tín giữ lời hứa, ôm chặt cột chân cầu không rời, cuối cùng chết đuối.

Điển cố này rất nổi tiếng trong lịch sử, đầu tiên có ghi trong “Trang Tử”, sau có trong “Sử ký”, được người đời ca tụng là khuôn mẫu của Đạo Đức trong việc thủ tín giữ lời, phát triển thành câu thành ngữ: “Vĩ sinh bão trụ, Vĩ sinh chi tín” ( tạm dịch: Vĩ sinh ôm cột, cái tín của Vĩ sinh).

Bây giờ, dựa vào tiêu chuẩn của Trung Dung “Đại Đạo vi tông, Đức bất tương hại” mà phân tích:

Thứ nhất: Nam nữ độc thân hẹn gặp dưới gầm cầu, đây là việc không đúng lễ, vi phạm Lễ Đức.

Thứ hai: Nữ nhân tới thời gian ước định mà không tới, đó là thất ước, nhưng có thể do tình huống đặc thù hoặc nhân tố bất khả kháng nào đó chăng? Vĩ sinh cứ như vậy ôm cột mà chết, tất nhiên anh ta không thất tín, nhưng anh ta có nghĩ cho cô gái kia không? Anh ta đã hãm cô gái vào tình huống bội tín, vô tình vô nghĩa, hại tính mạng người, quãng đời còn lại sống sao đây? Anh ta chỉ cố chấp vào Tín của mình, mà không xét tới người khác, không có lòng khoan thứ bao dung, vi phạm Đức nhân từ, khoan thứ.

Thứ ba: Nước sông dâng nhanh, nhưng Vĩ sinh hoàn toàn có thể chui khỏi gầm cầu, chạy lên trên cầu, hoặc tránh sang chỗ khác, vừa giữ được Tín lại không vi phạm Đạo Đức, lý gì mà không làm? Sao cứ cố chấp nhất mực cầu chết? Đây là phạm vào Trí.

Thứ tư: Xả sinh thủ nghĩa, lấy thân tuẫn Đạo là một Đức hạnh phi thường, nhưng phải trân quý sinh mệnh, tuyệt đối không coi rẻ sinh mệnh, cân nhắc chết vậy có đáng không? Nếu vì Đại Đạo, vì quốc gia, vì hạnh phúc của chúng sinh mà chết, để thành tựu đạo nghĩa, thì cần chết, cái chết thật vĩ đại. Nhưng Vĩ sinh chỉ chết vì một người con gái sai hẹn, cái chết thật rẻ mạt. Không biết trân trọng sự an bài, ân tứ của chư Thần, không tiếc công lao to lớn của mẹ cha, cũng đã vi phạm Đức Hiếu.

Theo phân tích trên, Vĩ Sinh ôm cột đã vi phạm Đạo Trung Dung. Anh ta tự mình cưỡng tín, đi sang cực đoan, tổn hại chỉnh thể của Đức hạnh, xa rời Đại Đạo.

Tiếp theo là câu chuyện “Ngu Công dời núi”.

Câu chuyện này ghi trong “”Liệt Tử”, mọi người biết rõ, nên không thuật lại chi tiết, ở đây ta phân tích:

Chỉ vì nhà Ngu Công ở dưới chân hai ngọn núi Thái Hành và Vương Ốc, nên thấy rằng hai ngọn núi này chặn đường của ông, làm ông không tiện đường đi, vậy là xuất ra một cử chỉ cuồng vọng, san bằng hai ngọn núi lớn.

Nhà Ngu Công ở dưới chân hai ngọn núi Thái Hành và Vương Ốc, nên thấy rằng hai ngọn núi này chặn đường của ông, làm ông không tiện đường đi, vậy là xuất ra một cử chỉ cuồng vọng, san bằng hai ngọn núi lớn. (Ảnh: Sohu)

Nếu chỉ vì hai ngọn núi chắn đường, thì chuyển nhà có được không? Sao cứ phải dời núi? Theo thế mà làm, chẳng phải núi cao khắp thế gian phải san bằng? Như khi đi trên đường, không may dẫm phải gai, ta nhổ gai đi, hay là chặt luôn cả chân? Nếu theo tư duy của Ngu Công, chân dẫm gai, cần chặt chân đi, vậy cả chân của con cháu cũng cần phải chặt để tránh dẫm gai, thật là đáng sợ.

Đầu tiên, Ngu Công làm vậy là vi phạm Đạo tự nhiên, phá hoại môi trường sinh thái.

Chỉ vì tư lợi mà cuồng vọng dời núi lấp biển, ngạo mạn trước tự nhiên cao rộng, lấy khẩu hiệu cải tạo tự nhiên, vô tri phá hoại tự nhiên, phá hoại môi trường. Chính như Trung Cộng đang làm hiện nay, dẫn đến đất Thần Châu rộng lớn thương tích khắp mình, môi trường hủy hoại trong một buổi.

Không chỉ vậy, Ngu Công chỉ vì cái lợi của mình mà họa hại cháu con vạn đại về sau. Ngu Công dời núi, khi đã hơn 70 tuổi, làm không nổi, nên lệnh cháu con gian khổ lao lực, còn họa hại cả trẻ con lân cư. Dời đất đá núi Thái Hành, Vương Ốc đem lấp biển Bột Hải, một năm chỉ được một lượt đi về. Khi có người hảo tâm khuyên trở, ông vẫn chấp mê bất ngộ, nói quyết làm đến chết, không dời được núi, thì lệnh cho con cháu vạn đại về sau tiếp tục, con cháu thì vô cùng vô tận, chỉ cần không đoạn tử tuyệt tôn, thì sẽ có ngày núi kia san phẳng. Cũng may là Ngu Công chỉ họa hại con cháu của ông ta, người như vậy mà làm quân vương, thì không phải là ngày tàn của thế giới sao?

Cuối cùng Liệt Tử nói, tinh thần cố chấp của Ngu Công làm cảm động Thần Linh, kết quả là Thần Linh giúp Ngu Công dời hai lưng núi sang chỗ khác, chặn đường đi của người khác. Đây là sự khinh nhờn đối với Thần Linh.

Lão Tử viết “Trí giả nhược ngu” (Tạm dịch: Người Trí trông như ngu ngốc), Liệt Tử có thể là muốn biểu đạt ý này, nhưng tầng thứ không đủ, không lý giải được ý nghĩa chân chính của Đạo, nên bị lệch đường.

Trong câu chuyện này, muốn làm nổi bật tinh thần kiên định, thà chết không rời của Ngu Công. Ngu Công mang Đức tính này phát huy đến chí cực, các Đức tính đều không ngại phát huy tới chí cực, điểm mấu chốt là phải đem nó dung nhập vào chỉnh thể mà phát huy, tuyệt không phát huy đơn độc, cố chấp cưỡng cầu, nếu đặt trong chỉnh thể, thì càng phát huy đến chí cực, càng xuất sắc.

Nếu Ngu Công mang đức hạnh của ông dung nhập vào chỉnh thể mà phối hợp thi hành, thì quả thật là xuất sắc; nếu mang tinh thần kiên nhận bất bạt này mà làm việc xấu, thì sẽ là cực kỳ phá hoại, họa hại ngàn năm. Đem bất kỳ đức tính nào cô lập lại, thì sẽ mất đi sự cân bằng của chỉnh thể, sẽ cố chấp mà thành ác.

Nếu Ngu Công không dời núi để lấp biển, mà làm đường, tận dụng năm tháng cuối đời, đồng thời hiệu triệu cháu con vạn đại, thuận theo thế núi, kết hợp thiên nhiên, làm một con đường, thuận tiện cho dân chúng mưu sinh, lại giải quyết được vấn đề của mình, làm hài hòa thiên nhiên và con người, chẳng phải là mang đức hạnh này phát huy đến hoàn mỹ hay sao? Như vậy mới có thể cảm động được Thần Minh trong trời đất, xuất hiện Thần tích, thành tựu đại Đức.

Kỳ thực, rất nhiều sự tình sai biệt ở điểm này, vị tư vị ngã, cá nhân độc tự thi hành, hiển thị cá tính, thì sẽ đi vào cực đoan, trở thành phần tử phá hoại. Chỉ có bảo trì Trung Dung, mới giữ được vị trí bất bại.

Nhiều người cho rằng, Trung Dung là vạn sự  đều không để phát triển đến chí cực. Kỳ thực là ngược lại, đạo Trung Dung nhấn mạnh vạn sự cần phát triển đến chí cực, đạt tới trạng thái hài hòa hoàn mỹ chí cực. Mấu chốt là phải dung nhập chỉnh thể mà làm tới chí cực, không thể cô lập mà làm tới chí cực, nếu không sẽ thành phá hoại.

Đem sự vật cô lập lại, về căn bản đây chính là cái “Tư” đang tác quái, nó chính là nguyên nhân căn bản làm cho thiên hạ lệch khỏi Đại Đạo.

Khổng Tử nói: “Quân tử hòa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hòa.”

Kỳ thực đây chính là trí huệ của Trung Dung. Vạn vật trong thiên hạ đều không giống nhau, như vậy mới có thể cấu thành nên thế giới tự nhiên muôn màu muôn sắc, nếu chúng giống hệt nhau, thì quả là đáng sợ! nó sẽ có dạng thức phát triển giống như các tế bào ung thư và virus vậy. Duy trì Đạo Trung Dung, bảo trì chỉnh thể hài hòa, thì mới bảo trì được tính đa dạng của tự nhiên vạn vật, làm vạn vật không hại lẫn nhau, thế giới đa màu sắc, đẹp đẽ vô cùng, đây là “Hòa nhi bất đồng”.

Nếu cô lập cố chấp áp chế một vật, nó sẽ phát triển vô độ, vượt khỏi giới hạn của tự thân nên có, từ đó mà phá hỏng cân bằng của vạn vật, làm vạn vật đều bị nó xâm hại. Virus, tế bào ung thư cho đến sự tẩy não của ĐCS, yêu cầu thống nhất tư tưởng, thống nhất nhận thức, đều là như vậy.

Phong cách Mao Trạch Đông trong lòng Tập Cận Bình Bệnh độc, tế bào ung thư cho đến sự tẩy não của ĐCS, yêu cầu thống nhất tư tưởng, thống nhất nhận thức, đều là như vậy. (Nguồn ảnh: NTD Việt Nam tổng hợp)

Nó phá hoại tính đa dạng của sự vật, trở thành vật đồng nhất, cũng là hủy diệt thế giới. Đây chính là “Đồng nhi bất hòa”.

Chỉnh thể thăng hoa

Từ ghi chép của các nền văn minh cổ đại, thời thượng cổ, khi thiên hạ vận hành trong Đại Đạo, nhân loại sống trong trạng thái xã hội nửa Thần nửa nhân, môi trường tự nhiên cực kỳ mỹ hảo, khắp nơi hoa nở quả ngon, Tiên cầm dị thú, vạn vật không hại lẫn nhau, nhân loại có năng lực siêu nhiên. Người ngày nay cho đó là Thần thoại.

Khi vạn vật đều quy về trong Đạo, duy trì Trung Dung, thì đạt đến chỉnh thể thăng hoa, làm tất cả vạn vật đạt tới trạng thái hoàn mỹ chí cực, xã hội con người đạt tới trạng thái xã hội nửa Thần, hợp nhất cùng Trời Đất, cùng vạn vật sinh sôi.

“Trung Dung” viết: Duy đạt tới trạng thái thiên hạ chí thuần vô tà , mới có thể hiển lộ bản tính tiên thiên, mới làm cho bản tính tiên thiên của con người hiển lộ ra được. Khi bản tính tiên thiên của con người hiển lộ, thì mới làm cho bản tính tiên thiên của vạn vật hiển lộ xuất lai, hòa cùng Đất Trời thành một thể, mang năng lực siêu nhiên, cùng hóa dưỡng vạn vật.

“Trung Dung” cũng viết: Đạt đến trạng thái chí thuần vô tà, thì có thể biết trước được sự việc phát sinh trong tương lai, tất cả đều có thể biết trước thông qua kết nối với tự nhiên vạn vật, như Thần vậy.

Do đó, thiên hạ nếu thực sự đạt tới Trung Dung, thì sẽ làm nhân loại cùng vạn vật cộng đồng thăng hoa, đạt tới chí cực hài hòa mỹ hảo, trở thành xã hội nửa Thần. Đáng tiếc là tự cổ đến nay, không biết có ai chân chính hiểu được nội hàm của Trung Dung.

Làm Đế vương có lẽ là việc khó nhất của các ngành nghề trong nhân loại, chỉ có ở cảnh giới cao nhất, đứng cao hơn vạn vật, thì người đó mới có thể làm Vương vạn vật, dẫn dắt vạn vật tới nơi tốt đẹp. Đồng thời, cũng chỉ có đặt mình ở vị trí thấp nhất, mới có thể nâng đỡ vạn vật, làm chúa tể vạn vật. Đây là yêu cầu cơ bản để làm bậc minh quân.

Trị quốc là một học vấn cực lớn, nó siêu xuất rất xa trí huệ của nhân loại. Đại Đạo sinh ra vạn vật, trí huệ chân chính đến từ Đại Đạo, Đại Đạo là gốc của trị quốc, không có trí huệ này, thì không thể hiểu được cách trị quốc.

Tại sao “Đạo Đức kinh” của Lão Tử, ở một tầng nông mà nhìn, thì toàn là đạo lý trị quốc, khi ở tầng cao hơn nhìn, thì là Đại Đạo chân tu thành Tiên? Bởi vì, quá trình làm Vương, là quá trình liên tục đề cao cảnh giới và trí huệ, khi đạt tới tiêu chuẩn hợp cách của quân vương, cũng là Thần, hoặc gọi là Đại Đạo Chân Nhân, cổ nhân gọi là “Nội Thánh ngoại Vương”.

Tự cổ đến nay, đều có nhiều kẻ xưng vương xưng bá, thực ra đây là biểu hiện của vô tri, khác gì ếch ngồi đáy giếng, phồng bụng ngoạc mồm mà tưởng mình có thể nuốt chửng thiên hạ. Bậc Đế Vương chân chính không phải phàm nhân có thể làm được đâu.

(Còn tiếp)

Thái Bình

Theo tác giả: Lý Đạo Chân