News Feed

Ấu học Quỳnh Lâm – Bài 38: Phật Tổ và Lão Tử

Văn hóa Nho Đạo Phật vào thời Đường đạt đến đỉnh cao, hoàn thành an bài của lịch sử và thành tựu đặc điểm văn hóa Nho -Thích – Đạo giáo ở mảnh đất Thần châu. Từ chỗ làm người hướng đến tu luyện thành Thần.

Nguyên văn

如來、釋迦,即是牟尼,原系成佛之祖;老聃、李耳,即是道君,乃為道教之宗

Bính âm

Rúlái, shìjiā, jí shì móu ní, yuán xì chéng fó zhī zǔ; lǎo dān, lǐ ěr, jí shì dào jūn, nǎi wèi dàojiào zhī zōng

Hán Việt

Như Lai – Thích Ca,  tức thị Mâu Ni,  nguyên hệ thành Phật chi tổ;  Lão Đam – Lý Nhĩ, tức thị đạo quân,  nãi vi Đạo giáo chi tông.

Giải thích nghĩa của từ

(1) 如來 Như Lai: Như, như thật, tức chân thật, chỉ chân lý tuyệt đối. Như Lai, chỉ vị Thánh giả đạt tới giác ngộ bằng cách tuân theo chân lý tuyệt đối, ám chỉ Phật Thích Ca Mâu Ni.

(2) 釋迦 Thích Ca: Viết tắt của Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa. Con trai của vua Tịnh Phạn của thành quốc Ca Tỳ La Vệ ở ở bắc bộ Ấn Độ cổ (thuộc Nepal ngày nay), bởi nhận ra nhân sinh vô thường, ngài đã từ bỏ cuộc sống vương giả, vào núi tu hành, trở thành ông tổ của Phật giáo.

(3) 系 Hệ: là.

(4) 祖 Tổ: người sáng lập.

(5) 老聃 Lão Đam, 李耳 Lý Nhĩ: tức là Lão Tử. Họ là Lý, tên đầu là Nhĩ, tự là Bá Dương, thuỵ là Đam. Là ông tổ của Đạo giáo, ông là tác giả của “Đạo Đức kinh”.

(6) 道君 Đạo quân: vốn là người tu đạo được tôn sùng nhất trong Đạo giáo, ở đây nói đến Lão Tử.

(7) 為 Vi: Là

(8) 宗 Tông: Thuỷ Tổ.

Bản dịch tham khảo

Như Lai và Thích Ca Mâu Ni đều là chỉ Thích Ca Mâu Ni, là ông tổ của Phật giáo; Lão Đam và Lý Nhĩ chính là Lão Tử, ông được tôn là người sáng lập ra Đạo giáo.

Đọc sách bút đàm

Đây là bài cuối cùng của tài liệu này. Xem lại toàn bộ nội dung từ hỗn độn sơ khai, Nữ Oa tạo ra con người, đến Tam Hoàng Ngũ Đế lưu lại văn hoá lịch sử, các đời y dược kỹ thuật, tất cả đều phản ánh đặc điểm Thần truyền, đến bài học cuối cùng này lại giảng giải về thuỷ tổ của hai nền văn hóa tu luyện lớn là Phật và Đạo. Điều này có nghĩa là gì? Đó là để nói với trẻ nhỏ rằng lịch sử và văn hóa của chúng ta ban đầu đến từ Thiên Thượng, và mục đích cuối cùng của chúng ta chính là tham chiếu những điểm ngộ của tổ tiên, và hiểu được rằng con người cuối cùng phải thông qua tu luyện để trở về Trời.

Chúng ta vốn là con cháu của Viêm Hoàng, là con cháu của Viêm Đế và Hoàng Đế, không chỉ “Thần Nông bản thảo kinh” và “Hoàng Đế nội kinh” của Viêm Đế và Hoàng Đế, vốn là tổ tiên của kỹ thuật và tri thức y dược của Trung y, mà Hoàng Đế còn tự mình thông qua việc trị quốc, hoàn thành việc tu hành chính mình, quản lý quốc gia đến cảnh giới vô vi mà trị, chính là lưu lại con đường làm quân vương trị quốc cũng chính là tu đạo, có thể thăng thiên thành Thần, văn hoá tu Đạo hồi quy Thiên thượng, vốn chính là do hai vị Hoàng đế sơ khai nhất trong kỳ văn minh lần này của chúng ta – Viêm Hoàng nhị đế – lưu lại. Có điều mấy nghìn năm sau, lịch sử trải qua ba triều đại Hạ Thương Chu, đến thời Xuân Thu chiến quốc nửa sau triều nhà Chu, đạo đức đã xuống dốc trầm trọng. Thế rồi lịch sử đã an bài Khổng Tử và Lão Tử cùng xuất hiện vào thời Xuân Thu, để bảo tồn và kế thừa văn hoá tu đạo và làm người mà tổ tiên Đế vương để lại. 

Chúng ta thấy rằng Nho gia có nhiệm vụ phụ trợ các bậc Đế vương chỉnh lý lịch sử, giáo dục dân chúng, phụ trách chỉnh lý kinh điển giáo hoá và công tác giáo dục, là người kế thừa và bảo tồn văn hóa của các triều đại đã qua. Theo cách nói của ngày nay, đó chính là một nhà văn hóa phụ trách giáo dục. Vì vậy, chúng ta sẽ luôn tìm thấy những đặc điểm như vậy trong rất nhiều kinh điển của Nho gia là kinh điển của tổ tiên để lại, như “Kinh dịch”, “Thi kinh”, “Thượng thư”… đều là như thế, điều này mang ý nghĩa là Khổng Tử mang trọng trách bảo tồn, kế thừa và truyền lại cho hậu thế bộ phận nhân luân đạo đức, làm người nhân nghĩa, cuộc sống hàng ngày đối nhân xử thế như thế nào, cũng như các chế độ lễ nghi mà các bậc Đế vương trước đây đã giáo hoá cho bách tính.

Khổng Tử trong bộ tranh “Khổng Tử Thánh tích đồ” của Cừu Anh đời Minh (Phạm vi công cộng)

Quả nhiên, thời Xuân Thu kết thúc, bước sang thời Chiến Quốc, cuối cùng nhà Chu cũng đến đi đến mạt thế, đạo đức càng băng hoại hơn nữa, các chủng tư tưởng học thuyết xa rời đạo đức, nói về phương diện khác đã xuất hiện, đó chính là sự xuất hiện của bách gia chư tử bên cạnh Đạo gia và Nho gia. Nói một cách chặt chẽ, thì bách gia chư tử này cũng là văn hoá do các bậc tiên vương lưu lại, bất kể là binh gia hay là pháp gia… đều là các bậc tiên đế khi trị quốc đã từng dùng qua. Chỉ là, các bậc đế vương thời cổ đại đều có đại đức, lấy đức dùng pháp, lấy đức dùng binh, nhưng mà thời Chiến Quốc, một số lại bị dùng vào việc ác. Ví dụ, Pháp gia đã xa rời đạo đức mà thuyết giảng pháp trị, vào thời Chiến Quốc, các học thuyết khác nhau đã bị các “kẻ sĩ” thuộc tầng lớp quý tộc có học thức thấp nhất đưa ra, chúng lần lượt ra đời, tốt xấu lẫn lộn, dễ dàng nhiễu loạn nền giáo hoá đạo đức chính thống. Vào thời điểm này, tư tưởng chính thống của Khổng Tử và Lão Tử, vì để phân biệt với tư tưởng của bách gia chư tử khác, mà lập riêng thành Nho giáo và Đạo giáo. Vì vậy, dù thế nào đi nữa, căn bản của văn hóa truyền thống là do Nho giáo kế thừa, nhà Hán độc tôn, tiếp tục trở thành chính thống của giáo dục cho con người, đó là tất yếu của lịch sử.

明 文徵明 老子像 (公有领域)

Chân dung Lão Tử của Văn Trưng Minh đời Minh (Phạm vi công cộng)

Vào những năm cuối của thời nhà Hán, thời kỳ Tam Quốc, hai đời nhà Tấn, đến thời Nam Bắc triều, là thời đại lưu lại đạo nghĩa và du nhập văn hóa tu luyện Phật gia. Nếu như nói rằng thời Tam Quốc cuối triều nhà Hán là diễn dịch và đúc kết tư tưởng văn hóa trung nghĩa, “Phong Thần diễn nghĩa” cũng làm rõ chân tướng về an bài lịch sử và văn hóa tu luyện Đạo gia sâu sắc từ cuối đời Thương đến nhà Chu, vậy thì văn hóa Đạo gia (bao gồm cả Nho gia) đã truyền dạy cho thế gian một cách sinh động văn hóa Phật giáo sắp xuất hiện, đặt nền móng cho văn hóa tu Phật trong “Tây Du Ký” sau này. Do đó, văn hóa Phật gia của Thích Ca Mâu Ni đã du nhập vào vùng đất Hán qua các dân tộc xung quanh vào thời kỳ nhà Tùy, nhà Đường và cuối thời nhà Hán. Lương Vũ Đế là đế vương tu Phật thời Nam triều, thời đại đó, văn nhân thi nhân đế vương tu Phật là rất nhiều,  chính là để những bậc tinh anh này lưu lại văn hoá tu Phật.

Văn hóa Nho Đạo Phật vào thời Đường đạt đến đỉnh cao, hoàn thành an bài của lịch sử và thành tựu đặc điểm văn hóa Nho -Thích – Đạo giáo ở mảnh đất Thần châu. Từ chỗ làm người hướng đến tu luyện thành Thần.

Chúng ta đã thấy rằng những cuốn sách giáo khoa này tất phải xuất phát từ việc giáo dục các nho sinh mà chỉnh lý, không ngừng bảo tồn văn hóa mà lịch sử lưu lại, và khuyên mọi người không được quên lời dạy của tổ tiên rằng phải trọng đức và tu đạo để trở về. Vậy an bài của lịch sử đi đến ngày hôm nay, tương lai tiếp theo sẽ là như thế nào? Mọi người có thể tham khảo những dự ngôn được lưu lại từ các triều đại trong quá khứ, chẳng hạn như “Thôi Bối Đồ” của nhà Đường, “Mai Hoa Thi” của nhà Tống, “Mã Tiền Khóa” của Gia Cát Lượng, đều đã sớm nói về an bài của thời kỳ này.

Kể chuyện

Phật Thích Ca Mâu Ni

Thích Ca Mâu Ni, tên thật là Tất Đạt Đa. Là con trai của vua Tịnh Phạn của thành quốc Ca Tỳ La Vệ ở bắc bộ Ấn Độ cổ (thuộc Nepal ngày nay), Ngài bởi nhận ra rằng nhân sinh vô thường, mà từ bỏ cuộc sống vương giả, vào núi tu hành, trở thành thuỷ tổ của Phật giáo. Phật tử tôn ông là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

释迦牟尼佛 中国画

Bức tranh “Phật Thích Ca Mâu Ni” của Diêu Văn Hàn đời Thanh (Phạm vi công cộng)

Thích Ca Mâu Ni là phiên âm của tiếng Phạn. Thích Ca, tên của dòng tộc, dịch theo ý là “Năng”; Mâu Ni được dịch theo ý là “Nhân”; Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là “vị thánh nhân của tộc Thích Ca”. Phật, dịch theo âm tiếng Phật Đà Gia, hay Phật Đà, Phù Đồ, gọi tắt là Phật.

Khi Thích Ca Mâu Ni 29 tuổi, Ngài đã thấy đủ mọi khổ đau sinh lão bệnh tử của thế nhân khi Ngài ra ngoài thành du hành, hiểu được thế sự vô thường, nên Ngài rời khỏi hoàng cung, vào núi tu hành. Sau đó, Ngài chu du khắp nơi, thuyết Pháp 45 năm, khi 80 tuổi, Ngài đã viên tịch ở thành Kushinagar.

Câu chuyện về Lão Tử

Ông tổ của Đạo giáo – Lão tử, họ Lý, tên là Nhĩ, tự là Bá Dương, thuỵ là Đam. Người huyện Khổ nước Sở vào thời Xuân Thu. Ông từng đảm nhiệm chức Thủ tàng thất chi sử (Quan sử quản lý tàng thư) trong triều Chu, sau đó lui về ở ẩn, dốc lòng tu đạo. Sau khi đắc Đạo, ông đi ra khỏi quan ải phía Tây.Viên quan Doãn Hỷ giỏi về xem thiên tượng, biết sẽ có Thần đi qua nên ngày đêm tìm kiếm dấu hiệu của Thần, quả nhiên gặp được Lão Tử đang cưỡi con trâu xanh chuẩn bị rời khỏi quan ải. Hai người nói chuyện rất vui vẻ, Doãn Hỷ cực lực muốn mời ông ở lại. Nhưng sau khi viết “Đạo Đức kinh” 5 nghìn chữ, thì Lão Tử ra khỏi quan ải mà đi, không ai biết rốt cuộc ông đã đi về đâu.

Lão Tử cưỡi Trâu Chân dung Lão Tử cưỡi Trâu. (Ảnh qua Epochtimes.com)

Sự xuất sinh của Lão Tử mang đậm sắc thái thần thoại. Tương truyền, vào đêm khuya một ngày nọ, mẹ của Lão Tử nhìn thấy một ngôi sao băng trên bầu trời đêm mà mang thai. Điều đáng kinh ngạc là sau 72 năm mang thai (có thuyết nói là 81 năm), ông được sinh ra dưới nách trái của mẹ, khi vừa rơi xuống đất, tóc ông đã trắng bạc phơ nên mọi người gọi ông là Lão Tử.

Tướng mạo của Lão Tử cũng khác người thường. Tục truyền rằng ông có nước da trắng vàng, trán rộng, lông mày rậm và mắt to, nhưng lông mày màu vàng, miệng vuông, môi dày, răng thưa, mỗi bên tai có ba lỗ nhỏ và rủ xuống đến vai, mũi to, có hai trụ thịt bên trong. Lão Tử không chỉ có dung mạo kỳ dị mà còn có trí tuệ cực cao. Kiệt tác Đạo Đức Kinh với 5.000 chữ mà ông để lại là một kinh điển quan trọng của tu luyện Đạo gia.

Lam Sơn
Theo The Epochtimes