News Feed

KÍNH THÁP

A-Dục vương có câu chuyện rằng: “Vua khởi lòng tin, hỏi đạo nhân:
Tôi xưa nay đã tùy tiện giết hại nhiều người, nay nên tu nghiệp thiện gì để thoát tội ấy?
Chỉ có cách dựng tháp, cúng dường chư tăng, cứu người tù tội, giúp đỡ người nghèo túng.
(Do đó, kinh Thí dụ nói rằng trong cung nhà vua thường cúng dường bốn thứ cần dùng cho hai vạn sa-môn, hết lòng lễ kính khó kể xiết).
Vua hỏi:
– Nên dựng tháp ở đâu?
Đạo nhân liền dùng thần lực đưa tay trái che ánh mặt trời, tạo thành tám mươi bốn nghìn luồng ánh sáng tỏa chiếu khắp cõi Diêm-phù- đề, chiếu đến chỗ nào thì nên dựng tháp ở đó. Đó chính là những nơi có các ngôi tháp A-dục ngày nay.
Bấy giờ, nhà vua muốn dựng tháp xá-lợi, nên đem bốn đạo quân đến thành Vương Xá lấy xá-lợi trong tháp Phật của vua A- xà-thế. Nhà vua cho sửa sang ngôi tháp giống như trước. Sau đó, nhà vua còn lấy xá-lợi trong bảy ngôi tháp Phật. Nhà vua cũng đến thôn Chúng Ma, được long vương đưa vào long cung. Nhà vua hỏi xin xá-lợi để cúng dường, liền được long vương chia cho một số xá-lợi. Nhà vua đã cho làm tám mươi bốn nghìn chiếc hộp bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê để tôn trí xá-lợi Phật; rồi lại sai làm tám mươi bốn nghìn cái bình báu để giữ những chiếc hộp ấy. Vua còn sai làm vô số tràng phan, lọng để cúng dường xá-lợi. Đồng thời, nhà vua cũng ra lệnh quỉ thần bảo với một ức gia đình trong các xóm làng, thành thị khắp cõi Diêm-phù-đề hãy dựng tháp thờ Đức Phật.
Bấy giờ, nước Trước-xoa-thi-la có ba mươi sáu ức gia đình. Dân trong nước ấy cầu xin quỉ thần cho ba mươi sáu hộp xá-lợi Phật để họ dựng tháp. Nhà vua liền tạo điều kiện cho dân trong nước: sai đem cho họ một ít xá-lợi để được đủ số mà dựng tháp thờ.
Khi ấy, ở ấp Ba -liên-phất có vị thượng tọa tên Da-xá. Một hôm vua A-dục đến chỗ của sư, thưa:
– Tôi có ý nguyện dựng tám mươi bốn nghìn ngôi tháp ở khắp cõi Diêm-phù-đề trong cùng một ngày.
Thượng tọa nói:
Lành thay! Vào giờ ăn chính của ngày rằm, đại vương hãy sai dựng, cùng lúc đúng số lượng tháp như thế ở cõi Diêm-phù-đề.
Thế rồi, trong một ngày, tám mươi bốn nghìn ngôi tháp đã được dựng lên. Dân chúng trên thế giới hết sức vui mừng, cùng gọi đó là các tháp vua A-dục”.
Kinh Đại A-dục vương ghi: “Bấy giờ, tám nước chia nhau xá -lợi Phật. Sau khi được chia tám mươi bốn nghìn viên xá-lợi và được riêng phần râu mép của Phật, vua A-xà-thế liền mang về nước. Giữa đường, vua gặp long vương Nan-đầu-hòa đòi chia phần xá-lợi. Vua A-xà-thế không cho, long vương liền nói:
– Ta là long vương, có thừa sức mạnh để phá hoại đất nước của ông.
Lo sợ, vua A-xà-thế đành chia râu Phật cho long vương. Trở về long cung sâu tám mươi bốn nghìn dặm dưới chân núi Tu-di, long vương dựng tháp bằng thủy tinh để thờ râu Phật. Phần vua A-xà-thế, sau khi về nước, liền lấy hộp bằng vàng ròng đựng xá-lợi, làm một ngọn đèn thắp sáng được một nghìn năm, dùng cát và nước của sông Hằng xây tháp, rồi chôn hộp xá-lợi dưới tháp ấy.
Mãi sau khi vua A-dục chiếm được nước của vua A-xà-thế, đã cưới một bà phu nhân cao tám thước, tóc cũng dài bằng thân người, đủ các tướng tốt. Theo lệnh vua, xem tướng cho bà ấy xong, thầy tướng nói: ‘Phu nhân này sẽ sinh cho đại vương một đứa bé da màu vàng ròng’. Nhà vua liền phong bà ấy làm đệ nhị phu nhân. Thái hậu ganh ghét, luôn tìm thời cơ thuận tiện để trừ khử đệ nhị phu nhân. Một hôm, khi phu nhân ấy mang thai đã mười tháng, sắp sinh, nhà vua có việc phải ra khỏi cung. Thái hậu thừa dịp ấy, liền sai tìm một con lợn nái sắp đẻ, rồi bảo bà phu nhân:
Em còn ít tuổi, lại mới sinh lần đầu, do đó, em không nên để lộ mặt ra ngoài trời.
Vừa trùm mặt lại, phu nhân liền sinh đứa bé trai da vàng sáng rực cung điện. Thái hậu trộm đem đứa bé giết đi, lấy lợn con đặt bên cạnh phu nhân, rồi mắng:
Ngươi bảo rằng sẽ sinh cho đại vương đứa con trai da vàng, nhưng tại sao lại sinh ra con lợn?
Thái hậu liền cầm cây luân đầu đánh và nhốt bà phu nhân ở khu vườn phía sau cung điện, bắt trồng rau cải. Vừa trở về cung, nghe thái hậu tâu lại, nhà vua rất bực bội. Sau đó khá lâu, một hôm trong lúc đi dạo trong vườn, nhìn thấy phu nhân, nhà vua chợt thấy nhớ thương, liền cho đón bà về cung. Dần dần được gần gũi nhà vua trở lại, đệ nhị phu nhân kể lại đầy đủ sự tình trước kia. Nghe xong, vua A-dục rất kinh dị, liền sai giết tám mươi bốn nghìn bà phu nhân. Sau đó, nhà vua lại cho xây một nhà ngục ở ngoài kinh thành để trừng trị tội nhân.
Biết nhà vua vì giết các vợ mình nên phải đọa địa ngục, Da-xá liền sai tì-kheo Tiêu Tán đến giảng giải cho nhà vua tin và hiểu đạo lý. Bấy giờ, nhà vua hỏi:
Tôi đã giết tám mươi bốn nghìn người vợ. Tội ấy có thể chuộc được không?
Tì-kheo đáp:
Cứ giết một người thì phải dựng một ngôi tháp, rồi đặt dưới tháp một viên xá-lợi. Làm như thế thì ngài sẽ được thoát tội.
Vua A-dục liền đi tìm xá-lợi Phật của vua A-xà-thế. Khi ấy, có một vị tướng phụ đã một trăm hai mươi tuổi, dẫn năm trăm người đi lấy xá-lợi trong nước. Tìm được xá-lợi, vua rất vui mừng, liền giao cho các quỉ thần mỗi vị đem xá- lợi về chỗ của mình. Vua ra lệnh đồng thời trong một ngày phải đưa xá-lợi đến tám mươi bốn nghìn nơi. Các quỉ thần nói:
Bởi có nhiều núi ngăn cách, nên các nơi không thể báo tin được cho nhau. Nhà vua bảo:
Các ngươi hãy trở về cõi nước của mình chuẩn bị sẵn sàng và treo chuông gió lên. Ta sẽ sai A-tu-la dùng tay che mặt trời để khắp thế giới có cùng một giờ”.
Kinh A-nan ghi: “Khi dựng xong mới được một nghìn hai trăm ngôi tháp, các tấm phan đã dệt xong chưa kịp treo lên cùng với hoa, nhà vua luôn sợ mình qua đời. Do đó, sáu ngày sau, nhà vua liền thỉnh chư tăng đến thượng uyển để cúng dường. Bấy giờ, có la-hán Ưu-ba-quật-đa nhận lời thỉnh của vua, đưa mười tám nghìn vị a-la-hán đến. Tôn giả Quật-đa có dung mạo xinh đẹp, da dẻ mịn màng; còn nhà vua thì thân thể xấu xí, da dẻ thô nhám. Tôn giả liền nói kệ:
Khi ta làm bố thí,
Dùng tâm tịnh, của tốt.
Không như vua bố thí,
Dùng cát dâng chư Phật.
Nghe rồi, nhà vua bảo các đại thần:
Ta vì dùng cát cúng dường Phật, nên chịu quả báo như thế. Tại sao ta không tu hạnh cung kính Thế Tôn?
Sau đó, nhà vua sai tìm những ngôi tháp của các đệ tử Phật thời Phật tại thế, như Ca-diếp, A-nan v.v… Đích thân vua đến chỗ các tháp ấy, thành tâm cung kính lễ, tỏ bày sự xót xa và cúng dường mọi thứ. Nhà vua còn dựng một ngôi đại tháp cho mỗi vị và cúng dường mỗi ngôi tháp này mười vạn lượng châu báu.
Đến lượt phải cúng dường ngôi tháp của Bạc-câu-la, nhà vua hỏi:
Vị này có công đức gì? Tôn giả Quật-đa đáp:
Vị ấy là bậc ‘Vô bệnh đệ nhất’, nhưng không giảng câu pháp nào cho ai cả, chỉ luôn luôn im lặng.
Nhà vua sai các quan:
Hãy cúng dường một đồng tiền. Các quan hỏi nhà vua:
Công đức vốn bình đẳng, tại sao bệ hạ chỉ cúng dường tháp này một đồng tiền?
Nhà vua bảo:
– Hãy nghe kệ của ta:
Tuy trừ vô minh si,
Trí tuệ soi xét khắp,
Tuy có Bạc-câu-la,
Thế gian được ích gì?
Sau đó, đồng tiền kia tự quay trở lại cung điện. Thấy việc lạ lùng ấy, các quan cùng ca ngợi vị a-la-hán kia:
Than ôi! Tôn giả giữ hạnh thiểu dục tri túc, ngay cả một đồng cũng không cần.
Từ đó, nhà vua liên tục cúng dường cây bồ -đề. Một phu nhân tên Đê-xá-la-hi -đa nghĩ: ‘Đức vua đang rất yêu mến ta, nhưng nay lại bỏ thân ngọc ngà ta mà đến cội bồ-đề. Vậy ta nên tìm cách làm cho cây ấy chết để đức vua không đến chỗ ấy nữa. Như thế, đức vua mới chịu vui vầy với ta’. Bà phu nhân liền sai người tưới sữa nóng vào cây bồ-đề ấy khiến cây khô, lá rụng. Nghe tin cây bồ-đề chết, quá đau buồn, nhà vua đã ngất xỉu. Thấy nhà vua mãi âu sầu, bà phu nhân muốn làm vui lòng vua, liền hỏi nguyên do. Vua bảo:
Nếu không có cây kia thì mạng ta cũng không còn. Như Lai đã đắc đạo ở cây ấy. Nay cây ấy không còn thì ta đâu cần sống!
Bà phu nhân bèn sai tưới sữa lạnh vào cây ấy, nó liền sống lại. Vua nghe tin, vui mừng, đến cội cây bồ-đề chiêm ngưỡng mắt không rời. Sau đó, nhà vua sai dùng một nghìn bình nước thơm tưới cây, khiến nó trở nên đẹp hơn trước nhiều, cao to và sum sê.
Về sau, nhà vua chuẩn bị thân tâm thanh tịnh, bưng lư hương ở trên điện thờ, lễ bốn phương, tâm nghĩ, miệng nói:
Các đệ tử hiền thánh của Như Lai ở các nơi! Hãy thương xót mà nhận sự cúng dường của con!
Khi nhà vua nói như thế xong, có ba mươi vạn tì- kheo tập hợp đến. Trong số đó, mười vạn người là a-la-hán, hai mươi vạn là thánh hữu học. Nhân dịp này, nhân dân, cung nhân, thái tử, các quan và nhà vua đã tạo công đức lớn lao vô cùng, không thể kể xiết”.

Nguồn :Nhân Quả