5 câu chuyện làm tròn chữ hiếu hiển thần tích của người xưa

“Đạo hiếu” có một vị trí quan trọng trong văn hóa truyền thống. (Ảnh: Miền công cộng)

“Đạo hiếu” có một vị trí quan trọng trong văn hóa truyền thống, có câu “Đạo phụng thờ cha mẹ, đó là gốc của đức”. Người thực sự hiếu thảo có thể được Thần Phật bảo hộ, thần tích sẽ triển hiện.

1. Chu Thái hiếu mẫu, hổ không dám ăn thịt

Vào thời nhà Tống, Chu Thái, người Võ Khang ở Hồ Châu, rất hiếu thảo với mẹ của mình. Gia đình ông rất nghèo nên hàng ngày ông đi đốn củi bán lấy tiền nuôi mẹ, ông phải thường xuyên phải đi xa hàng chục dặm đường để bán củi rồi lại mua thức ăn về cho mẹ. Chu Thái đối với bản thân ăn mặc kham khổ, nhưng luôn bảo vợ con thường xuyên để tâm đến cảm xúc của mẹ.

Một hôm, khi gà gáy lần thứ nhất, Chu Thái liền lên núi đốn củi, đến khi trời gần sáng thì dừng lại nghỉ ngơi. Đúng lúc đó, bất ngờ một con hổ lao tới, ngoạm lấy chân trước của Chu Thái rồi lôi đi. Chu Thái sợ hãi vô cùng, để con hổ cắp đi hơn trăm bước mới tỉnh lại. Khi tỉnh lại, ông gắng hết sức và nói lớn với hổ: “Hổ dữ! Người làm ác lại còn muốn ăn thịt ta! Ta không sợ ngươi ăn thịt ta, nhưng tiếc là mẫu thân ta sau này không ai nương tựa!” Thật kỳ lạ, sau khi Chu Thái nói câu này, con hổ đã nhả Chu Thái ra và bỏ đi mà không thèm quay lại, như thể ai đó đã xua đuổi nó.

Chu Thái chịu đựng đau đớn vô cùng, bò về nhà, hàng xóm hết sức ngạc nhiên mà tán thán rằng: “Chu Thái hiếu thảo với mẹ, nên hổ không dám ăn thịt!”

2. Người con hiếu thảo canh giữ mộ mẹ, mùa đông cây cối cũng đâm chồi nảy lộc.

Vào thời nhà Tống, có một người tên là Từ Tích, cha anh mất khi anh mới ba tuổi. Mẹ anh dạy anh đọc “Hiếu Kinh”. Từ Tích khi đó mới mấy tuổi vừa đọc sách vừa nhớ tới cha mình mà bật khóc. Từ Tích rất hiếu thảo với mẹ, tự mình làm mọi việc, không bao giờ nhờ vả ai, kể cả khi lên kinh thành đi thi, mỗi ngày đều như thường lệ sớm tối thỉnh an, hỏi han ân cần. Khi Từ Tích hơn hai mươi tuổi, anh đậu Tiến Sĩ nhưng vẫn chưa kết hôn. Người khác đều tỏ ra lo lắng cho anh, nhưng anh nói: “Nếu cưới về một người thê tử không hiền lành hiếu thảo, khiến mẫu thân buồn lòng mà sinh bệnh thì phải làm sao đây?”

Mẹ anh dạy anh đọc “Hiếu Kinh”. Từ Tích khi đó mới mấy tuổi vừa đọc sách vừa nhớ tới cha mình mà bật khóc. (Ảnh miền công cộng)

Vì trong tên của cha anh chữ “Thạch”, nên Từ Tích không bao giờ sử dụng đồ dùng bằng đá. Đi trên đường, anh cũng tránh dẫm phải đá. Có người nói với anh: “Anh không cần kiêng kỵ như vậy. Ngay cả khi đi đường cũng kiêng kỵ thì rất khó làm được!”

Từ Tích trả lời: “Tôi không cố ý tránh. Chỉ là gặp phải con đường đá, tôi sẽ buồn nghĩ đến cha mình, vậy tôi còn có tâm tư nào mà đi lên?”

Vì vậy mà lòng hiếu thảo của ông từ một người truyền đến mười người, mười người truyền đến trăm người, đến thời Nguyên Phong thì được truyền đến tai Hoàng đế, hoàng đế đã đặc biệt ban tặng cho ông lụa và gạo để khen ngợi những việc làm hiếu thảo của ông.

Nghe nói sau khi mẹ của Từ Tích qua đời, anh ấy đã thực sự giữ đạo hiếu trước mộ mẹ mình trong ba năm. Một ngày nọ, vào một đêm đông tuyết lạnh giá, trên trời bỗng nhiên rơi xuống cam lộ, cây cối bên cạnh mộ mẹ anh lúc đó đâm chồi nảy lộc, nhanh chóng trở nên tươi tốt. Quả rất kỳ lạ!

3. Người con hiếu thảo tìm mẹ, người cỏ dẫn đường

Vào thời nhà Nguyên, có một người tên là Sử Ngạn Bân rất hiếu thảo. Một năm nọ, sông Hoàng Hà xảy ra lũ lụt, ảnh hưởng đến nhiều vùng đất rộng lớn, nhà của Sử Ngạn Bân cũng bị ngập, mộ của của mẫu thân của Sử Ngạn Bân bị nước lũ cuốn trôi, quan tài trôi theo dòng nước không biết trôi về đâu.

Sử Ngạn Bân cảm thấy mẹ mình sau khi chết không có chỗ mà yên nghỉ, nên quyết tâm tìm lại linh cữu của mẹ. Vì vậy, ông đã làm một người cỏ, thả vào trong nước và ngửa mặt lên cầu trời: “Quan tài của mẹ ta bị nước cuốn đi, không biết trôi về đâu. Xin ông Trời thương xót tấm lòng người làm con như ta, mà để người rơm này dẫn đến chỗ quan tài của mẹ ta.”

Sau khi cầu nguyện, Ngạn Bân nước mắt đầm đìa. Sau đó, ông lái con thuyền nhỏ và đi theo người rơm kia, lênh đênh hơn mười ngày và trôi đi hơn ba trăm dặm, cuối cùng người cỏ dừng lại bên một bờ sông có rừng dâu. Sử Ngạn Bân bước vào khu rừng dâu này để tìm kiếm, và ông đã nhìn thấy linh cữu của mẹ mình. Ông dùng thuyền chở linh cữu của mẹ mình trở về, sau khi chôn cất rồi ông mới thấy lòng mình được thanh thản.

Có người nói: “Vạn vật có linh, người rơm dẫn đường cho người con có hiếu.” Có người lại nói: “Người rơm thì có linh gì? Là Thần nhờ người rơm dẫn đường!” Hai ý kiến không giống nhau, nhưng cả hai đều thừa nhận rằng có Thần linh.

4. Người con dâu hiếu thảo chết oan, cả quận hạn hán ba năm

Vào thời tiền Hán, Vu Công là quan huyện và là quyết tào (tên một chức quan) của quận, ông đã xử lý các công việc trong ngục một cách công bằng.

Đông Hải có một người vợ hiếu thảo, một góa phụ trẻ, không con trai, nhưng một lòng phụng dưỡng mẹ chồng. Mẹ chồng muốn cô tái giá nhưng cô một mực khước từ. Mẹ chồng cô không muốn liên lụy đến con dâu nên đã treo cổ tự tử.

Con gái của mẹ chồng tố cáo lên quan phủ, nói rằng con dâu giết mẹ chồng. Quan phủ bắt người vợ bất hiếu, người con dâu hiếu thảo nói rằng mình không giết mẹ chồng. Trong lúc tra khảo, viên quản ngục dùng hình phạt nặng, người con dâu bị vu oan giá hoạ. Vụ án đã hoàn thành và được báo cáo lên tào phủ của quận.

Vu Công cho rằng: Cô con dâu này, đã hơn mười năm hầu hạ mẹ chồng, nổi tiếng hiếu thảo, nhất định sẽ không giết bà ta. Tuy nhiên, thái thú không nghe lời của Vu Công, Vu Công tranh luận với ông ta, nhưng thái thú vẫn không tán đồng, nên ông chỉ biết ôm án tù và khóc lóc thảm thiết trong phủ. Thực sự không còn cách nào nữa nên tôi đành phải từ chức.

Cuối cùng người con dâu đã bị xử tội chết. Kết quả là quận đó đã bị hạn hán trong ba năm.

Đến khi người kế nhiệm của thái thú nhậm chức, ông xem quẻ hỏi nguyên nhân. Vu Công nói: “Không nên xử tử một người con dâu hiếu thảo kia. Thái thú tiền nhiệm đã tùy tiện xử án, sai lầm chính là ở đây!”

Vì vậy, vị thái thú mới nhậm chức mổ bò, đến mộ người con dâu hiếu thảo để làm lễ tế và viết văn bia khen ngợi. Trời liền giáng mưa to, mùa màng bội thu.

Vì vậy người dân trong quận rất tôn trọng Vu Công.

5. Quả phụ chết oan, cắm hoa thành cây

Vào những năm đầu Thiệu Hưng thời nhà Tống, có một góa phụ ở Hán Dương, hết lòng phụng dưỡng mẹ chồng, rất cần cù siêng năng. Bỗng dưng mẹ chồng không bệnh mà chết, hàng xóm tố cáo góa phụ đầu độc bà, tố cáo lên quan phủ. Người đàn bà góa không thể chịu đựng được sự tra tấn mà thừa nhận tội danh. Khi đến gần nơi hành quyết, quản ngục đã cài một bông hoa lựu vào búi tóc của cô.

Trên đường đi, quả phụ quay đầu lại và nói với đao phủ: “Ông hãy thay ta lấy bông hoa lựu này và cắm vào khe đá trên sườn núi.”

Sau khi đao phủ cắm hoa vào sườn núi, cô cầu nguyện và nói: “Ta không giết mẹ chồng ta, nếu trời cao thấy ta bị oan ức, thì hoa này sẽ mọc thành cây, nếu tôi có tội, hoa lựu sẽ héo tàn.”

Mọi người nghe xong đều thương hại cô. Sau khi cô ấy bị hành quyết. Ngày hôm sau, hoa lựu đã ra những chiếc lá mới, và chẳng mấy chốc đã mọc thành cây cao khoảng ba thước, hàng năm đều đơm hoa kết trái.

Lam Sơn

Theo Secretchina

Related Articles

Responses